Chọn đúng CPU
Xem bai viet bang font ABC
Lê Trung Việt
PC World US 5/1997
PC World VN
Thời buổi hiện nay, mọi thứ dường như đều có ý nghĩa. Bạn đã từng biết là Pentium chạy nhanh hơn 486, chip 200-MHz chạy nhanh hơn 133-MHz. Và nếu khi cần mua máy tính, chắc chắn bạn sẽ chọn loại có tốc độ nhanh nhất với giá tiền mà bạn có thể trả. Bạn cảm thấy rất hài lòng.
Nhưng mọi cái đều thay đổi.
Thị trường tràn ngập các loại CPU mới, và có vô số kiểu máy. Đến các cửa hàng, dịch vụ máy tính, hay đọc các trang quảng cáo, bạn sẽ nhận thấy nào là Pentium, nào là Pentium với công nghệ MMX, và mới đây nhất là Pentium II. Tất nhiên, bạn cũng sẽ tìm thấy máy tính sử dụng các chip tương thích của Advanced Micro Devices và Cyrix, mỗi loại đều có xung nhịp và đặc tính riêng của mình. Hơn nữa, còn có một loạt chip xử lý mới khác mà sự hiện diện của chúng vẫn còn mập mờ sau những tên mã như Deschutes, Katmai, và Willamette, làm cho tình thế trở nên càng rối ren thêm.
Nói chung, những CPU mới này đã xáo trộn các nguyên tắc mà chúng ta vẫn dùng để đo tốc độ. Ví dụ, Pentium MMX của Intel cho kết quả nhanh hơn Pentium Pro khi chạy các ứng dụng 16-bit, trong khi hơi chậm hơn với ứng dụng 32-bit. Hơn nữa, xung nhịp (clock speed) không còn là thước đo tốc độ đáng tin cậy nữa. Bằng chứng là các máy tính sử dụng chip Cyrix 6x86-PR200: chúng chạy ở tốc độ 150MHz nhưng lại cho kết quả nhanh hơn các máy tính sử dụng Pentium 200-MHz.
Bạn cảm thấy đau đầu? Hãy nghỉ một chút cho thư giãn, và theo chúng tôi để bám sát sự thay đổi liên tục trong công nghệ CPU.
Lựa chọn chip
Có một điều không hề thay đổi: với máy tính, giá và tốc độ vẫn là vấn đề quan trọng. CPU không chỉ là yếu tố cơ bản xác định tốc độ máy tính của bạn, mà còn là thành phần đắt nhất trong toàn hệ thống.
Tin tốt cho bạn là mọi sự lựa chọn đều tác động đến việc mua bán thực tế. Khi một loại chip mới xuất hiện, các chip cũ khác sẽ rẻ đi. Nếu bạn đã có dự định sắm một máy tính với chip Pentium cỡ 120 - 133MHz, thì giờ đây, giá của loại này đã rẻ đi khá nhiều.
Sau một thời gian khảo sát thị trường với nhiều loại máy tính và CPU khác nhau, đồng thời tham khảo ý kiến của các nhà phân tích về những gì có được ở các loại CPU sắp tới, kết luận chung của PC World là:
Nếu giá là vấn đề quan tâm hàng đầu của của bạn thì hãy mua máy tính sử dụng các loại chip K5 của AMD, MediaGX hay 6x86 của Cyrix, hoặc Pentium thông thường của Intel. Các loại chip này tương đối rẻ hơn, nhưng Pentium vẫn là loại thông dụng cho nhiều khả năng lựa chọn và đảm bảo vấn đề tương thích.
Đối với máy tính sử dụng trong gia đình và giải trí, bạn nên chọn Pentium MMX (hỗ trợ multimedia). Với giá cả hợp lý, các trò chơi mới nhất và ứng dụng multimedia sẽ rất thích hợp trên loại máy này.
Còn khi bạn cần tốc độ và không mấy quan tâm đến multimedia, hãy cân nhắc Pentium Pro, đặc biệt nếu bạn chạy các ứng dụng 32-bit mới nhất.
Trong trường hợp bạn muốn có được công nghệ mới nhất, tiên tiến nhất và cũng sẵn sàng trả giá cho nó, thì hãy xem xét đến Pentium II của Intel, M2 của Cyrix và K6 MMX của AMD. Tất cả các CPU mới này đều cho tốc độ nhanh hơn hẳn.
Tất nhiên, sự đánh giá chính xác nhất chỉ có được khi chạy phần mềm trên một máy tính hoàn chỉnh. Trước khi cân nhắc nên chọn loại nào, bạn cần tìm hiểu về những gì ở bên trong.
Công nghệ MMX
Sự kiện nổi bật nhất trong năm nay về lĩnh vực CPU là Intel đưa ra công nghệ MMX. Các CPU trong tương lai của Intel cũng sẽ là MMX. Hầu như tất cả các nhà sản xuất PC lớn đều giới thiệu các máy tính được trang bị MMX của mình như thiết kế chuẩn cho máy để bàn, và cả các máy tính xách tay cũng hỗ trợ công nghệ này. Vào giữa năm nay, những hệ thống này đầu tiên sử dụng chip loại Pentium Pro - MMX - chẳng hạn như Pentium II, K6 và M2 sẽ được tung ra. Cho đến cuối năm, người dùng có thể chứng kiến những phiên bản nhanh hơn của Pentium II, có tên mã là Deschutes.
Với những công việc cụ thể, chip MMX sử dụng ít lệnh hơn nhiều so với một CPU chuẩn thông thường. Liệu MMX có làm thay đổi cuộc sống của bạn? Có lẽ là không. Bản thân MMX không làm tăng tốc độ bảng tính hay trình xử lý văn bản, mặc dù một số cải tiến khác trong chip có thể tăng cường cho những ứng dụng này. Ví dụ, nhờ bộ nhớ cache lớn, Pentium MMX có thể thực hiện nhanh hơn Pentium tương đương từ 7 - 10%. Không phải là sự khác biệt lớn, nhưng cũng đủ để bạn có cơ sở cân nhắc cho một hệ thống tối ưu.
Tuy nhiên chip MMX lại tỏ ra vượt trội với những phần mềm sử dụng các lệnh MMX mới. Trong thử nghiệm, khi chạy các phiên bản MMX của Adobe Photoshop, Macromedia Director và Fractal Design Ray Dream Studio, tốc độ tăng đến 20 - 45%, đặc biệt khi chạy các ứng dụng video toàn màn hình theo chuẩn MPEG-2 đã cho kết quả hiển thị như video thông thường (mặc dù vẫn phải sử dụng card video MPEG để đạt được 30 khung hình trong 1 giây).
Trừ khi bạn say mê với nghệ thuật trên Photoshop, thiết kế các trình diễn multimedia, hay tiêu tốn thời giờ trong thế giới thực tế ảo 3 chiều (3D VRML) trên Internet, thì sức mạnh của MMX thể hiện rất rõ trong các phần mềm trò chơi và giải trí. Nói chung là công nghệ MMX thực sự hữu ích cho sử dụng gia đình.
Đằng sau sự kết nối
CPU không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến tốc độ của hệ thống. Một ổ cứng và bo mạch chủ chạy nhanh, cùng với số lượng RAM thoải mái có thể làm cho máy tính của bạn chạy nhanh đáng kể. Tuy nhiên, bạn không thể có được một hệ thống máy chạy nhanh thật sự trên cơ sở CPU chậm. Vậy ngoài khả năng hỗ trợ MMX, một CPU nhanh còn phải có những gì khác?
Tốc độ xung nhịp. Tuy không còn là tiêu chuẩn cơ bản để phán xét tốc độ của CPU, nhưng xung nhịp vẫn mang rất nhiều ý nghĩa. Mỗi xung nhịp trôi qua (CPU 200-MHz thực hiện 200 triệu xung nhịp trong một giây), một vài chỉ thị được thực hiện. Điều này có nghĩa là xung nhịp càng cao, CPU càng sớm kết thúc công việc.
Bộ nhớ cache. RAM hệ thống không thể luôn luôn cung cấp đầy đủ dữ liệu cần thiết cho CPU một cách nhanh chóng. Bộ nhớ SRAM nhanh hơn nằm giữa CPU và bộ nhớ chính có tác dụng khắc phục nhược điểm trên.
Loại cache sơ cấp này (primary), hay còn gọi là cache Level 1 (cache cấp 1) được thiết lập ngay bên trong CPU và chạy cùng với tốc độ xung nhịp của chip. Intel và AMD chia phần cache sơ cấp bên trong CPU thành hai phần - cho chỉ thị và cho dữ liệu - giúp CPU truy tìm nhanh chóng. Nói chung, cache sơ cấp càng lớn, chip càng nhanh.
Máy tính lại trợ giúp CPU với một lượng cache lớn của hệ thống - gọi là cache thứ cấp (secondary) hay cache Level 2 (cache mức 2). Trong đa số trường hợp, cache thứ cấp nằm ngay trên bo mạch chủ và chạy với tốc độ của nó (chậm hơn tốc độ CPU). Để tăng tốc độ, Pentium Pro được thiết sẵn bên trong cache thứ cấp, trong khi Pentium II và các BXL tiếp theo của Intel đặt cache trong trên cùng vỉ mạnh không qua bo mạch chủ.
Cấu trúc. Cấu trúc của một CPU cho biết chip đó xử lý lệnh và dữ liệu như thế nào. Các CPU hiện nay đều sử dụng một hay nhiều pipeline (ống dẫn) đa gia đoạn (multistage) để có thể xử lý nhiều hơn một lệnh trong cùng thời điểm. Để thực hiện quá trình này một cách hiệu quả, CPU có khả năng suy đoán lệnh nào sẽ được thực hiện tiếp theo. Nếu sai, CPU phải quay ngược lại để thực hiện thao tác sửa lỗi. Nếu CPU được thiết kế tốt, nó sẽ ít đoán sai hơn.
Mật độ. Các transistor trong CPU càng được bố trí sít nhau hơn, CPU càng nhanh hơn. CPU phải thực đồng bộ các tín hiệu đi qua hàng triệu transistor. Giảm khoảng cách giữa các transistor cho phép chip chạy ở tốc độ nhanh hơn.
Trong đa số các BXL hiện nay, các transistor được bố trí cách nhau 0,35 micron (1 micron bằng 1 phần trăm đường kính sợi tóc con người), cho phép xung nhịp hoạt động hiệu quả ở giới hạn 200MHz. Cả Intel, AMD, và Cyrix đều hứa hẹn tung ra công nghệ chip 0,25 micron nhanh hơn vào cuối năm nay.
Mật độ sắp xếp transistor cao hơn còn giảm lượng silicon cần thiết trong sản xuất chip, cho phép tiết kiệm vật liệu và theo lý thuyết, giảm giá thành.
Các đối thủ
Chip nào tốt nhất đối với bạn? Đây là những gì chúng tôi biết và những gì chúng tôi dự đoán về các CPU hiện tại và tương lai.
Intel Pentium. Các hệ thống máy sử dụng chip Pentium là sự lựa chọn tuyệt vời cho những người mua hàng. Với 1000 USD, bạn có thể sở hữu một chiếc PC Pentium nhãn hiệu nghiêm chỉnh, hoặc nếu là máy nhái lắp ráp, bạn chỉ phải bỏ ra chưa đầy 650 USD. Và giá của loại chip này đang ngày càng giảm.
Intel cho biết sẽ tiếp tục sản xuất Pentium một khi thị trường còn có nhu cầu, và các máy PC Pentium sẽ còn tồn tại cho đến hết năm 1997. Còn sau đó thì sao? Một nhà sản xuất PC giấu tên nói rằng: "Intel đã cho thấy rất rõ ràng là cho đến cuối năm nay, sẽ không sản xuất chip không phải MMX P-200". Có nghĩa là Intel muốn có một thế giới của MMX.
AMD K5. Khi chip cạnh tranh Pentium của AMD lần đầu tiên xuất hiện vào tháng 3/1996, nó gần như cả năm sau đó không chạy nhanh như mong đợi. Nhưng AMD tiếp tục đưa ra chip K5-PR166 đầy ấn tượng và trong thử nghiệm, máy PC sử dụng chip của AMD đã không chỉ vượt qua phần lớn các máy chạy Pentium 166 mà còn ngang ngửa với Pentium 200. Và hơn nữa, giá của K5 thấp hơn Pentium tương đương.
AMD không đặt tên chip theo tốc độ xung nhịp thực tế mà theo chỉ số tốc độ của Pentium tương đương (gọi là P-Rating hay PR). Ví dụ chip K5-PR166 có tốc độ xung nhịp thực tế là 116,7MHz. AMD sản xuất K5 đến hết 1997 để cung cấp cho Acer, Epson, Everex, Monorail và Polywell.
Cyrix MediaGX. Đây là loại chip thích hợp nếu bạn cần một máy tính dùng cho xử lý văn bản hay truy cập Web với giá không quá 2000 USD (giá máy có nhãn hiệu). BXL MediaGX bao gồm cả đồ họa SVGA, mô phỏng sound blaster, kiểm soát bộ nhớ ngay trên một chip đơn tương thích Pentium, cho phép bạn không cần sử dụng card video và mạch âm thanh.
Một trong những máy tính sử dụng MediaGX là Compaq Presario 2100 có giá 1.300 USD (tại Mỹ). Nhưng sắp tới, một hệ thống MediaGX hoàn chỉnh sẽ được bán với giá khoảng 700 USD.
Yếu điểm của chip là tốc độ. Các phiên bản của MediaGX chạy ở 120- và 133-MHz đều thiếu cache thứ cấp, hơn nữa tất cả những yêu cầu xử lý video và âm thanh đều giao phó cho CPU. Do vậy, dù chạy ở tốc độ xung nhịp 133-MHz, máy Presario 2100 chỉ đạt tốc độ tương đương Pentium 100-MHz. Tất nhiên, tốc độ chậm có thể do nhiều nguyên nhân khác, và những hệ thống tiếp theo đó hy vọng sẽ trở nên nhanh hơn.
Cyrix 6x86. Trả ít hơn, có được nhiều hơn. Đó là câu chuyện về chip 6x86. Thực tế, máy tính trên cơ sở BXL này thường nhanh hơn 4% và rẻ hơn khoảng 200 USD so với máy tính chạy Pentium tương đương.
Tương thích có thể là điều đáng quan tâm đối với các chip không phải Intel, và Cyrix cũng có những vấn đề trước đây. Một số trò chơi hiện nay đưa ra các thông báo lỗi khi chúng không tìm thấy chip Intel, mặc dù phần lớn lỗi loại này đều có thể bị bỏ qua.
Giống như AMD, Cyrix đặt tên cho 6x86 không phải với tốc độ xung nhịp mà bằng giá trị Pentium tương đương (P-Rating). Ví dụ chip Cyrix 6x86 PR-200 có tốc độ xung nhịp là 150MHz, nhưng có khả năng thực hiện phần mềm nhanh hơn Pentium-200.
Một trong những nguyên nhân của tốc độ nhanh hơn là bo mạch chủ của 6x86. Chip Pentium 200-MHz thường chạy với bo mạnh có tốc độ 66MHz, dẫn tới làm chậm tốc độ bên ngoài CPU. Trong khi đó, hệ thống 6x86 sử dụng bo mạch chủ 75-MHz, cho phép thông tin di chuyển nhanh hơn.
Cho đến hiện tại, bạn có thể mua máy tính trực tiếp từ Cyrix, một trong số này là Power Desktop. Ngoài ra, các nhà sản xuất khác như CyberMax, Diamond, Kingdom và cả AST, IBM cũng cung cấp máy tính chạy Cyrix 6x86 (IBM tự sản xuất chip 6x86 với thiết kế của Cyrix).
Intel Pentium MMX. Mặc dù khoác nhãn hiệu chính thức "Pentium với công nghệ MMX", loại chip mới nhất này của Intel còn có nhiều điều đáng quan tâm chứ không chỉ là MMX. CPU được trang bị cache sơ cấp đến 32K cùng với một số sửa đổi nhỏ trong cấu trúc. Những cải tiến này đã giúp Pemtium MMX đạt được điểm cao trong các thử nghiệm, cho dù chưa nói đến khả năng MMX.
Bạn có thể mua máy tính chạy Pentium thông thường. Nhưng nếu không vì khả năng tài chính hạn hẹp, Pentium MMX sẽ là lựa chọn tuyệt vời với đa số người dùng.
Mặc dù Intel chưa công bố chính thức, nhưng chip Pentium MMX-233 MHz có lẽ sẽ có vào quý Tư năm nay.
Intel Pentium Pro. Vài tháng trước đây, Pentium Pro đã là BXL hàng đầu, mặc dù với các ứng dụng 16-bit tốc độ không nhanh lắm. Hiện tại, tuy bị lu mờ trước công nghệ MMX, nhưng Pentium Pro là đứng đầu với mã 32-bit.
Một nguyên nhân làm cho Pentium Pro có tốc độ cao là cache thứ cấp được thiết kế ngay bên trong vỏ của chip và hoạt động ở tần số 166 - 200MHz, nhanh hơn nhiều so với bo mạch chủ có tốc độ 60 hay 66MHz.
Vậy tại sao ưu thế này lại không phát huy với phần mềm 16-bit? Để giảm thiểu kích thước của chip, Intel đã loại bỏ một số thành phần có tác dụng tăng tốc mã 16-bit. Nếu chủ yếu chạy các ứng dụng 16-bit, bạn sẽ không khai thác được sức mạnh của Pentium Pro.
Tốc độ cao với mã 32-bit giúp Pentium Pro trở thành chip hàng đầu để lựa chọn cho máy chủ cao cấp và trạm làm việc. Tuy nhiên, vị trí này sẽ giữ được bao lâu? Liệu Pentium II sẽ là chip kế tục trong tương lai gần?
Đối thủ nặng ký
Intel Pentium II. Những nguời dùng khó tính đã không chấp nhận tốc độ ì ạch của Pentium Pro khi chạy mã 16-bit sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với chip mới nhất này của Intel. Điều này đạt được chủ yếu nhờ công nghệ MMX và 32KB cache sơ cấp trong chip.
Để giảm giá thành, Intel đã đưa cache thứ cấp ra bên ngoài chip và đặt nó ngay bên cạnh CPU trong một hộp (cartridge) loại Tiếp Xúc Một Cạnh (Single Edge Contact), và chạy ở tốc độ chậm hơn CPU nhưng nhanh hơn bo mạch chủ.
Các chip Pentium II đầu tiên chạy ở tần số 233 và 266MHz. Tuy nhiên, hiện tại máy tính sử dụng Pentium II còn đắt so đối với phần đông người dùng bình thường.
AMD K6 MMX. Với những vấn đề về chip K5, AMD đã thiết kế lại thế hệ chip mới K6 của mình trên cơ sở chip Nx686 của NexGen (AMD đã thu nhận NexGen vào năm ngoái). Thử nghiệm hệ thống chạy K6 đã cho kết quả rất tốt.
Mặc dù không đạt tốc độ như Pentium II, nhưng K6 lại rẻ hơn. Trong khi Pentium II đòi hỏi phải thiết kế cơ bản lại bo mạch chủ thì với K6, chỉ cần cắm chip vào chân đế của Pentium chuẩn, làm đơn giản quá trình sản xuất bo mạch.
Nhiều chuyên gia đã dự đoán AMD sẽ thành công với K6. Theo phân tích, mặc dù Pentium II vẫn giữ thế chủ đạo, nhưng K6 sẽ là đối thủ đáng giá.
Cyrix M2. Chip thế hệ kế tiếp của Cyrix cũng là đối thủ của Intel Pentium II trong cuộc tranh giành người dùng cao cấp. Thiết kế tăng cường của bộ xử lý này cho tốc độ tối ưu 32-, 16-bit và công nghệ MMX của riêng Cyrix. Theo công ty, M2 có tốc độ nhanh hơn 6x86 từ 150 đến 200%. Thành công này có thể là trở ngại lớn cho Pentium II.
M2 được ra mắt với bản 180 và 200MHz, tiếp đó sẽ là 225 và 233MHz. Hệ thống sử dụng chip 225MHz của Cyrix có tốc độ nhanh hơn bản 233MHz bởi nó dựa trên bo mạch chủ có tốc độ 75MHz.
Tương lai gần
Intel Deschutes. Sẽ được đưa ra vào cuối năm nay, đây là phiên bản nhanh hơn của Pentium II. Chip Deschutes sử dụng quy trình sản xuất mới, cho phép giảm khoảng cách giữa các transistor cấu thành chip tới 0,25 micron, vì vậy có thể tăng tốc độ xung nhịp cao hơn nữa.
Ngoài khả năng chạy ở tốc độ 400MHz, Deschutes có những ưu thế khác. Do kích thước nhỏ, CPU loại này có thể sẽ được sử dụng nhiều trong các máy tính xách tay.
Còn tiếp theo sau Deschutes? Đó là một số thiết kế đang được thực hiện với những tên mã Katmai, Willamette và Merced. Chi tiết về những CPU này còn được Intel giữ kín.
Lê Trung việt
PC World US 5/1997
1. Các chỉ thị và dữ liệu (instructions and data). Phần mềm được kết hợp từ các chỉ thị và dữ liệu. Chỉ thị báo cho CPU phải làm gì với dữ liệu. Dữ liệu và chỉ thị được lưu trên đĩa cứng, khi cần, chúng được chuyển vào RAM.
2. RAM. Lưu trữ tất cả các dữ liệu và chỉ thị cần để xử lý. Thông thường, RAM không thể cung cấp dữ liệu đủ nhanh cho CPU, hay nói cách khác, CPU xử lý nhanh hơn tốc độ cung cấp của RAM.
3. Cache thứ cấp (secondary cache). Các chỉ thị và dữ liệu được giả thiết sẽ dùng cho bước xử lý tiếp theo thường được lưu trong một loại RAM nhanh hơn, đắt tiền hơn, gọi là cache. Cache cung cấp dữ liệu và chỉ thị cho CPU nhanh hơn nhiều RAM thông thường.
4. Cache sơ cấp (primary cache). Chỉ thị và dữ liệu được lưu ở đây để cho CPU truy cập nhanh hơn nữa, với tốc độ xử lý của CPU.
5. Đơn vi thực thi (execution unit). Mỗi đơn vị thực hiện chỉ thị và lưu giữ kết quả.
6. Pipeline. Đơn vị thực thi xử lý các chỉ thị theo từng phần, theo nhiều giai đoạn. Mặc dù chưa kết thúc thực hiện một chỉ thị, đơn vị thực thi vẫn tiến hành thực hiện chỉ thị tiếp theo. Bởi vậy, nó xử lý các chỉ thị nhanh hơn.
7. Thiết kế siêu hướng (superscalar design). Các đơn vị đa thực thi xử lý đồng thời nhiều chỉ thị.
8. Vỏ chip (packaging). Vật chứa bằng gốm hay chất dẻo bao quanh miếng chip silicon.
DƯƠNG VĂN CA CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN BIM
Mẫu
Thông tin cá nhân
Họ và tên
Giới tính
Note that only one option can be chosen. Tên thường dùng:This example cannot be edited because our editor uses a textarea for input, and your browser does not allow a textarea inside a textarea.
Thứ Hai, 1 tháng 6, 2009
Cách Setup BIOS
Cách Setup BIOS
Xem bai viet voi font ABC
Khi khởi động máy lần đầu tiên, máy tính sẽ đọc một tập hợp dữ liệu được lưu trong CMOS (một chip bộ nhớ đặc biệt luôn hoạt động nhờ 1 cục pin nhỏ), không có thông tin nầy máy tính sẽ bị tê liệt. Việc xác lập các thông tin nầy gọi là Setup Bios và bao giờ người bán cũng phải làm thủ tục Setup Bios ngay sau khi ráp máy. Nhưng bạn cũng phải biết cách Setup Bios để đề phòng trường hợp máy tự mất các thông tin lưu trong Bios vì các lý do như: Hết pin, nhiễu điện, virus...Hiện nay, người ta dùng Flash Ram để lưu thông tin Bios nên không cần phải có Pin nuôi trên mainboard. Tùy Mainboard, các mục trong Bios có thể khác nhau theo từng hãng chế tạo (Award, Ami, Pheonix...) nhưng về căn bản chúng vẫn giống nhau và trong phần nầy chủ yếu bàn về căn bản, còn các tính năng riêng bạn phải chịu khó tìm hiểu thêm nhờ vào các kiến thức căn bản nầy.
Màn hình Bios Setup đa số là màn hình chạy ở chế độ TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn hình Setup gồm nhiều cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các mục vẫn không thay đổi.
Chú ý thao tác để vào Bios Setup là: Bấm phím Del khi mới khởi động máy đối với máy Ðài Loan. Ðối với các máy Mỹ, thường là bạn phải thông qua chương trình quản lý máy riêng của từng hãng nếu muốn thay đổi các thông số của Bios.
* Bios thường: Di chuyển vệt sáng để lựa chọn mục bằng các phím mũi tên. Thay đổi giá trị của mục đang Set bằng 2 phím Page Up và Page Dn. Sau đó nhấn phím Esc để thoát khỏi mục (giá trị mới sẽ được lưu trữ). Nhấn F10 để thoát Setup Bios nếu muốn lưu các thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để lưu, N để không lưu. Nhấn Esc nếu muốn thoát mà không lưu thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để không lưu, N để trở lại màn hình Setup Bios.
* Bios Win: Màn hình Setup xuất hiện dưới dạng đồ họa gồm nhiều cửa sổ, sử dụng được mouse nếu bạn có mouse loại: PS/2 mouse, Microsoft mouse, Serial mouse, Logitect C mouse. Dùng mouse bấm kép vào cửa sổ để mở một thành phần, bấm vào mục cần thay đổi, một cửa sổ liệt kê giá trị xuất hiện, bấm vào giá trị muốn chọn rồi thoát bằng cách bấm vào ô nhỏ ở góc trên bên trái. Nếu không có mouse, dùng các phím mũi tên để di chuyển, đến mục cần thay đổi bấm Enter, xuất hiện hộp liệt kê, chọn giá trị mới, bấm Enter, cuối cùng bấm Esc.
1. Setup các thành phần căn bản (Standard CMOS Setup):
Ðây là các thành phần cơ bản mà Bios trên tất cả các loại máy PC phải biết để quản lý và điều khiển chúng.
* Ngày, giờ (Date/Day/Time):
Bạn khai báo ngày tháng năm vào mục nầy. Khai báo nầy sẽ được máy tính xem là thông tin gốc và sẽ bắt đầu tính từ đây trở đi. Các thông tin về ngày giờ được sử dụng khi các bạn tạo hay thao tác với các tập tin, thư mục. Có chương trình khi chạy cũng cần thông tin nầy, thí dụ để báo cho bạn cập nhật khi quá hạn, chấm dứt hoạt động khi đến ngày quy định...Bình thường bạn Set sai hay không Set cũng chẳng nh hưởng gì đến hoạt động của máy. Các thông tin nầy có thể sửa chữa trực tiếp ngoài Dos bằng 2 lịnh Date và Time, hay bằng Control Panel của Windows mà không cần vào Bios Setup.
Chú ý: Ðồng hồ máy tính luôn luôn chạy chậm khong vài giây/ngày, thỉnh thoảng bạn nên chỉnh lại giờ cho đúng. Nhưng nếu quá chậm là có vấn đề cần phải thay mainboard.
* ổ đĩa mềm (Drive A/B):
Khai báo loại ổ đĩa cho ổ A và ổ B, bạn căn cứ vào việc nối dây cho ổ đĩa để xác định. ổ đĩa nối với đầu nối ngoài cùng của dây nối là ổ A, ổ kia là B. ổ có kích thước lớn là 1.2M 5.25 inch, ổ nhỏ là 1.44M 3.5 inch. Nếu không có thì chọn Not Installed. Nếu bạn khai báo sai, ổ đĩa sẽ không hoạt động chớ không hư hỏng gì, bạn chỉ cần khai báo lại. Trong các mainboard sử dụng Bios đời mới, khai báo sai loại ổ dĩa 1.2Mb thành 1.4Mb hay ngược lại, ổ dĩa vẫn hoạt động bình thường nhưng kêu rất lớn lúc mới bắt đầu đọc đĩa, về lâu dài có thể hư đĩa.
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép bạn tráo đổi 2 ổ đĩa mềm mà không cần tráo đổi dây (swap floppy drive), tức là ổ A thành ổ B và ngược lại khi sử dụng. Khi tráo đổi bằng cách Set jumper trên card I/O, bạn nhớ khai báo lại trong Bios Setup (Khi tráo bằng lịnh Swap trong Bios thì không cần khai báo lại), nhưng có ứng dụng không chịu cài đặt khi Swap đĩa mềm, nhất là các ứng dụng có bảo vệ chống sao chép.
* ổ đĩa cứng (Drive C/D) loại IDE:
Phần khai báo ổ đĩa cứng rắc rối hơn, bắt buộc bạn phải khai báo chi tiết các thông số, bạn khai báo sai không những ổ cứng không hoạt động mà đôi khi còn làm hư ổ cứng nếu bạn khai báo quá dung lượng thật sự của ổ cứng và cho tiến hành FDISK, FORMAT theo dung lượng sai nầy. May mắn là các Bios sau nầy đều có phần dò tìm thông số ổ cứng IDE tự động (IDE HDD auto detection) nên các bạn khỏi mắc công nhớ khi sử dụng ổ đĩa cứng loại IDE. Chúng tôi sẽ nói về phần auto detect nầy sau. Ngoài ra, các ổ cứng sau nầy đều có ghi thông số trên nhãn dán trên mặt. Bạn cho chạy Auto detect, Bios sẽ tự động điền các thông số nầy dùm bạn. Việc khai báo ổ cứng C và D đòi hỏi phải đúng với việc Set các jumper trên 2 ổ cứng. Bạn xác lập ổ cứng không phải qua đầu nối dây mà bằng các jumper trên mạch điều khiển ổ cứng. Các ổ cứng đời mới chỉ có một jumper 3 vị trí: ổ duy nhất, ổ Master (ổ C), ổ Slave (ổ D) và có ghi rõ cách Set trên nhãn. Các ổ đĩa cứng đời cũ nhiều jumper hơn nên nếu không có tài liệu hướng dẫn là rắc rối, phải mò mẫm rất lâu.
* ổ đĩa cứng (Drive E/F) loại IDE:
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép gắn 4 ổ dĩa cứng, vì hiện nay các ổ dĩa CDROM cũng sử dụng đầu nối ổ cứng để hoạt động, gọi là CDROM Interface IDE (giao diện đĩa IDE) để đơn giản việc lắp đặt.
Chú ý: Khai báo là NONE trong Bios Setup cho ổ đĩa CD-ROM.
* Màn hình (Video) - Primary Display:
EGA/VGA: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu EGA hay VGA, Super VGA.
CGA 40/CGA 80: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu CGA 40 cột hay CGA 80 cột.
Mono: Dành cho loại màn hình sử dụng card trắng đen, kể c card VGA khi dùng màn hình trắng đen.
* Treo máy nếu phát hiện lỗi khi khởi động (Error Halt):
Tất cả lỗi (All error): Treo máy khi phát hiện bất cứ lỗi nào trong quá trình kiểm tra máy, bạn không nên chọn mục nầy vì Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên nên bạn không thể biết các lỗi khác, nếu có.
Bỏ qua lỗi của Keyboard (All, But Keyboard): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của bàn phím.
Bỏ qua lỗi đĩa (All, But Diskette): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của đĩa.
Bỏ qua lỗi đĩa và bàn phím (All, But Disk/Key): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của ổ đĩa và bàn phím.
Không treo máy khi có lỗi (No error): Tiến hành quá trình kiểm tra máy cho đến khi hoàn tất dù phát hiện bất cứ lỗi gì. Bạn nên chọn mục nầy để biết máy bị trục trặc ở bộ phận nào mà có phương hướng giải quyết.
* Keyboard:
Install: Cho kiểm tra bàn phím trong quá trình khởi động, thông báo trên màn hình nếu bàn phím có lỗi.
Not Install: Không kiểm tra bàn phím khi khởi động. Chú ý: chọn mục nầy không có nghĩa là vô hiệu hoá bàn phím vì nếu vậy làm sao điều khiển máy. Nó chỉ có tác dụng cho Bios khỏi mất công kiểm tra bàn phím nhằm rút ngắn thời gian khởi động.
2. Setup các thành phần nâng cao (Advanced Setup):
* Virut Warning:
Nếu Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy khi có hành động viết vào Boot sector hay Partition của đĩa cứng. Nếu bạn cần chạy chương trình có thao tác vào 2 nơi đó như: Fdisk, Format... bạn cần phải Disable mục nầy.
* Internal cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) Cache (L1) nội trong CPU 486 trở lên.
* External cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) cache trên mainboard, còn gọi là Cache mức 2 (L2).
* Quick Power On Self Test:
Nếu enable Bios sẽ rút ngắn và bỏ qua vài mục không quan trọng trong quá trình khởi động, để giảm thời gian khởi động tối đa.
* About 1 MB Memory Test:
Nếu Enable Bios sẽ kiểm tra tất cả bộ nhớ. Nếu Disable Bios chỉ kiểm tra 1 Mb bộ nhớ đầu tiên.
* Memory Test Tick Sound:
Cho phát âm thanh (enable) hay không (disable) trong thời gian test bộ nhớ.
* Extended Bios Ram Area:
Khai báo mục nầy nếu muốn dùng 1 Kb trên đỉnh của bộ nhớ quy ước, tức Kb bắt đầu từ địa chỉ 639K hay 0:300 của vùng Bios hệ thống trong bộ nhớ quy ước để lưu các thông tin về đĩa cứng. Xác lập có thể là 1K hay 0:300.
* Swap Floppy Drive:
Tráo đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục nầy bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như khi tráo bằng cách Set jumper trên card I/O.
* Boot Sequence:
Chọn ổ đĩa cho Bios tìm hệ điều hành khi khởi động. Có thể là C rồi đến A hay A rồi đến C hay chỉ có C. Bạn nên chọn C,A hay chỉ có C, để đề phòng trường hợp vô tình khởi động bằng đĩa mềm có Virus.
Hiện nay trên các Mainboard Pentium. Bios cho phép bạn chỉ định khởi động từ 1 trong 2 ổ mềm hay trong 4 ổ cứng IDE hay bằng ổ cứng SCSI thậm chí bằng ổ CD Rom cũng được.
* Boot Up Floppy Seek:
Nếu Enable Bios sẽ dò tìm kiểu của đĩa mềm là 80 track hay 40 track. Nếu Disable Bios sẽ bỏ qua. Chọn enable làm chậm thời gian khởi động vì Bios luôn luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng, mặc dù bạn đã chọn chỉ khởi động bằng ổ C.
* Boot Up Numlock Status:
Nếu ON là cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng) sau khi khởi động, nhóm phím bên tay phải bàn phím dùng để đánh số. Nếu OFF là cho phím Numlock tắt (đèn Numlock tối), nhóm phím bên tay phải dùng để di chuyển con trỏ.
* Boot Up System Speed:
Quy định tốc độ của CPU trong thời gian khởi động là High (cao) hay Low (thấp).
* Memory Parity Check:
Kiểm tra chẵn lẻ bộ nhớ. Chọn theo mainboard vì có loại cho phép mục nầy enable, có loại bắt bạn phải disable mới chịu chạy. Ðầu tiên bạn chọn enable, nếu máy treo bạn chọn lại là disable. Mục nầy không ảnh hưởng đến hệ thống, chỉ có tác dụng kiểm tra Ram.
* IDE HDD Block Mode:
Nếu ổ đĩa cứng của bạn hỗ trợ kiểu vận chuyển dữ liệu theo từng khối (các ổ đĩa đời mới có dung lượng cao). Bạn cho enable để tăng tốc cho ổ đĩa. Nếu ổ đĩa đời cũ bạn cho disable mục nầy.
* Pri. Master/Slave LBA (Logic Block Addressing) Mode:
Nếu 2 ổ đĩa cứng được nối vào đầu nối Primary của card I/O có dung lượng lớn hơn 528Mb, bạn cho enable mục nầy.
* Sec. IDE Ctrl Drives Install:
Mục nầy để khai báo máy bạn có ổ đĩa cứng nối vào đầu nối Secondary của card I/O. Các chỉ định có thể là Master, Mst/Slv và disable.
* Sec Master/Slave LBA Mode:
Xác lập LBA cho đầu nối thứ 2.
Chú ý: Các mục hỗ trợ cho ổ đĩa cứng có dung lượng lớn và các card I/O đời mới giúp bạn sử dụng ổ đĩa có dung lượng trên 528Mb. Trong trường hợp bạn cho enable các mục nầy rồi mới tiến hành Fdisk và Format đĩa, nếu sau đó bạn lại disable các mục nầy hay đem gắn qua máy khác cũng chọn disable, bạn sẽ không thể sử dụng được ổ dĩa cứng. Khi dùng ổ CDROM có đầu nối IDE, bạn nên gắn vào đầu nối Secondary để khỏi ảnh hưởng đến ổ dĩa cứng (gắn vào đầu nối Pri) khi cần chạy 32BitDiskAccess trong Windows.
* Typematic Rate Setting:
Nếu enable là bạn cho 2 mục dưới đây có hiệu lực. 2 mục nầy thay thế lịnh Mode của DOS, quy định tốc độ và thời gian trể của bàn phím.
* Typematic Rate (Chars/Sec):
Bạn lựa chọn số ký tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm của bạn. Nếu bạn Set thấp hơn tốc độ đánh thì máy sẽ phát tiếng Bip khi nó chạy theo không kịp.
* Typematic Delay (Msec):
Chỉ định thời gian lập lại ký tự khi bạn bấm và giữ luôn phím, tính bằng mili giây.
* Security Option:
Mục nầy dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios Setup.
Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup, mỗi khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đã quy định trước.
System hay Always: Giới hạn việc sử dụng máy. Mỗi khi mở máy, Bios luôn luôn hỏi mật khẩu, nếu không biết mật khẩu Bios sẽ không cho phép sử dụng máy.
Chú ý: Trong trường hợp bạn chưa chỉ định mật khẩu, để Disable (vô hiệu hoá) mục nầy, bạn chọn Password Setting, bạn đừng đánh gì vào các ô nhập mật khẩu mà chỉ cần bấm ENTER. Trong trường hợp bạn đã có chỉ định mật khẩu nay lại muốn bỏ đi. Bạn chọn Password Setting, bạn đánh mật khẩu cũ vào ô nhập mật khẩu cũ (Old Password) còn trong ô nhập mật khẩu mới (New Password) bạn đừng đánh gì cả mà chỉ cần bấm ENTER. Có mainboard thiết kế thêm 1 jumper để xoá riêng mật khẩu ngoài jumper để xoá toàn bộ thông tin trong CMOS. Tốt hơn hết là bạn đừng sử dụng mục nầy vì bản thân chúng tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp dở khóc dở cười do mục nầy gây ra. Lợi ít mà hại nhiều. Chỉ những máy tính công cộng mới phải sử dụng tới mục nầy thôi.
* System Bios Shadow, Video Bios Shadow:
Nếu enable là cho copy các dữ liệu về System và Video trong Bios (có tốc độ chậm) vào Ram (tốc độ nhanh) để rút ngắn thời gian khi cần truy nhập vào các dữ liệu nầy.
* Wait for if Any Error:
Cho hiện thông báo chờ ấn phím F1 khi có lỗi.
* Numeric Processor:
Thông báo có gắn CPU đồng xử lý (Present) trên máy hay không (absent). Mục nầy thường có cho các máy dùng CPU 286, 386, 486SX. Từ 486DX trở về sau đã có con đồng xử lý bên trong CPU nên trên các máy mới có thể không có mục nầy.
* Turbo Switch Funtion:
Cho nút Turbo có hiệu lực (enable) hay không (disable). Mục nầy thường thấy ở các Bios đời củ, trên các máy đời mới lựa chọn nầy thường bằng cách Set jumper của Mainboard. Từ Mainboard pentium trở đi không có mục nầy.
3. Setup các thành phần có liên quan đến vận hành hệ thống (Chipset Setup):
* Auto Configuration:
Nếu enable, Bios sẽ tự động xác lập các thành phần về DRAM, Cache...mỗi khi khởi động tùy theo CPU Type (kiểu CPU) và System Clock (tốc độ hệ thống). Nếu Disable là để cho bạn tự chỉ định.
* AT Clock Option:
Nếu Async (không đồng bộ) là lấy dao động chuẩn của bộ dao động thạch anh chia đôi làm tốc độ hoạt động cho AT Bus (bus 8 - 16Bit). Thường là 14.318MHz/2 tức 7.159MHz. Có Bios còn cho chọn tốc độ của mục nầy là 14.318MHz. Nếu Sync (đồng bộ) là dùng System Clock (do bạn chỉ định bằng cách Set jumper trên mainboard) làm tốc độ chuẩn.
* Synchronous AT Clock/AT Bus Clock Selector:
Chỉ định tốc độ hoạt động cho AT Bus bằng cách lấy tốc độ chuẩn (system clock) chia nhỏ để còn lại khoảng 8MHz cho phù hợp với card 16Bit. Các lựa chọn như sau:
CLKI/3 khi system clock là 20 - 25MHz.
CLKI/4 khi system clock là 33MHz.
CLKI/5 khi system clock là 40MHz.
CLKI/6 khi system clock là 50MHz.
Tốc độ nầy càng lớn (số chia càng nhỏ), máy chạy càng nhanh do tăng tốc độ vận chuyển dữ liệu. Tuy nhiên lớn đến đâu là còn tùy thuộc vào mainboard và card cắm trên các Slot (quan trọng nhất là card I/O). Các bạn phải thí nghiệm giảm số chia từng nấc và chú ý máy có khởi động hay đọc đĩa bình thường không, nếu phát sinh trục trặc thì giảm xuống 1 nấc. Thường thì bạn có thể tăng được 2 nấc, thí dụ: System clock là 40MHz, bạn chọn CLKI/3. Card ISA 8 và 16 Bit có thể chạy tốt trong khoảng từ 8MHz đến 14MHz. Nếu nhanh quá, thường card I/O gặp trục trặc trước (không đọc được đĩa cứng).
* AT Cycle Wait States/Extra AT Cycle WS:
Ðể enable hay disable việc chèn thêm 1 thời gian chờ vào thời gian chuẩn của AT Bus. Nếu system clock dưới 33MHz chọn disable. Nếu trên 33MHz chọn enable.
* Fast AT Cycle:
Khi enable sẽ rút ngắn thời gian chuẩn của AT Bus.
* DRAM Read Wait States/DRAM Brust Cycle:
Dưới 33MHz là: 3 - 2 - 2 - 2 hay 2 - 1 - 1 - 1
Từ 33 - 45MHz là: 4 - 3 - 3 - 3 hay 2 - 2 - 2 - 2
50MHz là: 5 - 4 - 4 - 4 hay 3 - 2 - 2 - 2
Chọn mục nầy ảnh hưởng lớn đến tốc độ CPU.
* DRAM/Memory Write Wait States:
Chọn 1WS khi hệ thống nhanh hay DRAM chậm (tốc độ 40MHz trở lên). Chọn 0WS khi hệ thống và DRAM có thể tương thích (33MHz trở xuống).
* Hidden Refresh Option:
Khi enable, CPU sẽ làm việc nhanh hơn do không phải chờ mỗi khi DRAM được làm tươi.
* Slow Refresh Enable:
Mục nầy nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu trên DRAM, thời gian làm tươi sẽ kéo dài hơn bình thường. Bạn chỉ được enable mục nầy khi bộ nhớ của máy hỗ trợ việc cho phép làm tươi chậm.
* L1 Cache Mode:
Lựa chọn giữa Write-Through và Write-Back cho Cache nội trong CPU 486 trở lên. Xác lập Write-Through máy sẽ chạy chậm hơn Write-Back nhưng việc lực chọn còn tuỳ thuộc vào loại CPU.
* L2 Cache Mode:
Xác lập cho cache trên mainboard.
* IDE HDD Auto Detection/IDE SETUP:
Khi chọn mục nầy sẽ xuất hiện một cửa sổ cho bạn chỉ định ổ đĩa cần dò tìm thông số (2 hay 4 ổ đĩa tuỳ theo Bios). Sau đó bạn bấm OK hay YES để Bios điền vào phần Standard dùm cho bạn. Trong Bios đời mới, Auto detect có thể đưa ra vài loại ổ đĩa. Tuỳ theo cách sử dụng ổ dĩa (normal, LBA,...) mà bạn chọn loại thích hợp.
* Power Management Setup:
Ðối với CPU 486:
Phần nầy là các chỉ định cho chương trình tiết kiệm năng lượng sẵn chứa trong các Bios đời mới. Chương trình nầy dùng được cho cả 2 loại CPU: Loại thường và loại CPU kiểu S. CPU kiểu S hay CPU có 2 ký tự cuối SL là một loại CPU được chế tạo đặc biệt, có thêm bộ phận quản lý năng lượng trong CPU. Do đó trong phần nầy có 2 loại chỉ định dành cho 2 loại CPU.
Ðối với Pentium:
Dùng chung cho mọi loại Pentium hay các chíp của các hảng khác cùng đời với Pentium.
* Power Management/Power Saving Mode:
Disable: Không sử dụng chương trình nầy.
Enable/User Define: Cho chương trình nầy có hiệu lực.
Min Saving: Dùng các giá trị thời gian dài nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm năng lượng ít nhất).
Max Saving: Dùng các giá trị thời gian ngắn nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm nhiều nhất).
* Pmi/Smi:
Nếu chọn SMI là máy đang gắn CPU kiểu S của hãng Intel. Nếu chọn Auto là máy đang gắn CPU thường.
* Doze Timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Khi đúng thời gian máy đã rảnh (không nhận được tín hiệu từ các ngắt) theo quy định, CPU tự động hạ tốc độ xuống còn 8MHz. Bạn chọn thời gian theo ý bạn (có thể từ 10 giây đến 4 giờ) hay disable nếu không muốn sử dụng mục nầy.
* Sleep Timer/Standby timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Chỉ định thời gian máy rảnh trước khi vào chế độ Sleep (ngưng hoạt động). Thời gian có thể từ 10 giây đến 4 giờ.
* Sleep Clock:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S: Stop CPU hạ tốc độ xuống còn 0MHz (ngưng hẳn). Slow CPU hạ tốc độ xuống còn 8MHz.
* HDD Standby Timer/HDD Power Down:
Chỉ định thời gian ngừng motor của ổ đĩa cứng.
* CRT Sleep:
Nếu Enable là màn hình sẽ tắt khi máy vào chế độ Sleep.
* Chỉ định:
Các chỉ định cho chương trình quản lý nguồn biết cần kiểm tra bộ phận nào khi chạy.
Chú ý: Do Bios được sản xuất để sử dụng cho nhiều loại máy khác nhau nên các bạn luôn luôn gặp phần nầy trong các Bios. Thực ra chúng chỉ có giá trị cho các máy xách tay (laptop) vì xài pin nên vấn đề tiết kiệm năng lượng được đặt lên hàng đầu. Chúng tôi khuyên các bạn đang sử dụng máy để bàn (desktop) nên vô hiệu hoá tất cả các mục trong phần nầy, để tránh các tình huống bất ngờ như: đang cài chương trình, tự nhiên máy ngưng hoạt động, đang chạy Defrag tự nhiên máy chậm cực kỳ...
4. Phần dành riêng cho Mainboard theo chuẩn giao tiếp PCI có I/O và IDE On Board (peripheral Setup):
* PCI On Board IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) 2 đầu nối ổ đĩa cứng IDE trên mainboard. Khi sử dụng Card PCI IDE rời, ta cần chọn disabled.
* PCI On Board Secondary IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) đầu nối ổ đĩa cứng IDE thứ 2 trên mainboard. Mục nầy bổ sung cho mục trên và chỉ có tác dụng với đầu nối thứ 2.
* PCI On Board Speed Mode:
Chỉ định kiểu vận chuyển dữ liệu (PIO speed mode). Có thể là Disabled, mode 1, mode 2, mode 3, mode 4, Auto. Trong đó mode 4 là nhanh nhất.
* PCI Card Present on:
Khai báo có sử dụng Card PCI IDE rời hay không và nếu có thì được cắm vào Slot nào. Các mục chọn là: Disabled, Auto, Slot 1, Slot 2, Slot 3, Slot 4.
* PCI IRQ, PCI Primary IDE IRQ, PCI Secondary IDE IRQ:
Chỉ định cách xác lập ngắt cho Card PCI IDE rời.
Chú ý: Trong mục nầy có phần xác lập thứ tự gán ngắt cho các Card bổ sung. Thí dụ: 1 = 9, 2 = 10, 3 = 11, 4 = 12 có nghĩa là Card đầu tiên cắm vào bất kỳ Slot nào sẽ được gán ngắt 9, nếu có 2 Card thì Card cắm vào Slot có số thứ tự nhỏ sẽ được gán ngắt 9, Slot có số thứ tự lớn sẽ được gán ngắt 10.v..v...
* IDE 32Bit Transfers Mode:
Xác lập nầy nhằm tăng cường tốc độ cho ổ đĩa cứng trên 528Mb, nhưng cũng có ổ đĩa không khởi động được khi enabled mục nầy dù fdisk và format vẫn bình thường.
* Host to PCI Post Write W/S, Host to PCI Burst Write, Host to DRAM Burst Write:
Các mục nầy xác lập cho PCU Bus, không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ CPU, có thể để nguyên xác lập mặc nhiên.
* PCI Bus Park, Post Write Buffer:
Khi enabled các mục nầy có thể tăng cường thêm tốc độ hệ thống.
* FDC Control:
Cho hiệu lực hay không đầu nối cáp và xác lập địa chỉ cho ổ đĩa mềm.
* Primary Seral Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
* Secondary Serial Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 2 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy. Chú ý: Nếu bạn sử dụng Card bổ sung có xác lập điạ chỉ là COM 1 hay COM 2, bạn phải disabled cổng tương ứng trong hai mục trên.
* Parallel Port:
Cho hiệu lực hay không cổng LPT 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
5. Hướng dẫn Setup Bios:
Trong các tài liệu đi kèm mainboard, đều có hướng dẫn Setup Bios. Khi mua máy hay mua mainboard, các bạn nhớ đòi các tài liệu nầy vì nó rất cần cho việc sử dụng máy.
Trong các phần Setup trên, phần Standard, Advanced có ảnh hưởng đến việc cấu hình máy. Phần Chipset ảnh hưởng đến tốc độ máy. Phần PCI ảnh hưởng đến các gán ngắt, địa chỉ cho các Slot PCI, cổng; cách vận chuyển dữ liệu cho IDE On Board.
Nếu gặp các thành phần hoàn toàn mới, trước tiên bạn hãy Set các thành phần đã biết, kiểm tra việc thay đổi của máy, cuối cùng mới Set tới các thành phần chưa biết. Chúng tôi xin nhắc lại, việc Setup Bios sai không bao giờ làm hư máy và các bạn sẽ dễ dàng Setup lại nhờ vào chính Bios. Trên mainboard luôn luôn có 1 Jumper dùng để xóa các thông tin lưu trong CMOS để bạn có thể tạo lại các thông tin nầy trong trường hợp không thể vào lại Bios Setup khi khởi động máy.
Khi tiến hành tìm hiểu Setup Bios, bạn nên theo một nguyên tắc sau: Chỉ Set từng mục một rồi khởi động máy lại, chạy các chương trình kiểm tra để xem tốc độ CPU, ổ đĩa có thay đổi gì không?. Cách làm nầy gíúp bạn phát hiện được ảnh hưởng của từng mục vào hệ thống và bạn có thể biết chắc trục trặc phát sinh do mục nào để sửa chữa. Khi xẩy ra trục trặc mà bạn không biết đối phó, bạn chỉ cần vào lại Bios Setup chọn Load Bios Default hay bấm F6 trong phần Set mà bạn muốn phục hồi sau đó khởi động máy lại là xong.
C¸ch Setup BIOS
Xem bai viet voi font ABC
Khi khởi động máy lần đầu tiên, máy tính sẽ đọc một tập hợp dữ liệu được lưu trong CMOS (một chip bộ nhớ đặc biệt luôn hoạt động nhờ 1 cục pin nhỏ), không có thông tin nầy máy tính sẽ bị tê liệt. Việc xác lập các thông tin nầy gọi là Setup Bios và bao giờ người bán cũng phải làm thủ tục Setup Bios ngay sau khi ráp máy. Nhưng bạn cũng phải biết cách Setup Bios để đề phòng trường hợp máy tự mất các thông tin lưu trong Bios vì các lý do như: Hết pin, nhiễu điện, virus...Hiện nay, người ta dùng Flash Ram để lưu thông tin Bios nên không cần phải có Pin nuôi trên mainboard. Tùy Mainboard, các mục trong Bios có thể khác nhau theo từng hãng chế tạo (Award, Ami, Pheonix...) nhưng về căn bản chúng vẫn giống nhau và trong phần nầy chủ yếu bàn về căn bản, còn các tính năng riêng bạn phải chịu khó tìm hiểu thêm nhờ vào các kiến thức căn bản nầy.
Màn hình Bios Setup đa số là màn hình chạy ở chế độ TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn hình Setup gồm nhiều cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các mục vẫn không thay đổi.
Chú ý thao tác để vào Bios Setup là: Bấm phím Del khi mới khởi động máy đối với máy Ðài Loan. Ðối với các máy Mỹ, thường là bạn phải thông qua chương trình quản lý máy riêng của từng hãng nếu muốn thay đổi các thông số của Bios.
* Bios thường: Di chuyển vệt sáng để lựa chọn mục bằng các phím mũi tên. Thay đổi giá trị của mục đang Set bằng 2 phím Page Up và Page Dn. Sau đó nhấn phím Esc để thoát khỏi mục (giá trị mới sẽ được lưu trữ). Nhấn F10 để thoát Setup Bios nếu muốn lưu các thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để lưu, N để không lưu. Nhấn Esc nếu muốn thoát mà không lưu thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để không lưu, N để trở lại màn hình Setup Bios.
* Bios Win: Màn hình Setup xuất hiện dưới dạng đồ họa gồm nhiều cửa sổ, sử dụng được mouse nếu bạn có mouse loại: PS/2 mouse, Microsoft mouse, Serial mouse, Logitect C mouse. Dùng mouse bấm kép vào cửa sổ để mở một thành phần, bấm vào mục cần thay đổi, một cửa sổ liệt kê giá trị xuất hiện, bấm vào giá trị muốn chọn rồi thoát bằng cách bấm vào ô nhỏ ở góc trên bên trái. Nếu không có mouse, dùng các phím mũi tên để di chuyển, đến mục cần thay đổi bấm Enter, xuất hiện hộp liệt kê, chọn giá trị mới, bấm Enter, cuối cùng bấm Esc.
1. Setup các thành phần căn bản (Standard CMOS Setup):
Ðây là các thành phần cơ bản mà Bios trên tất cả các loại máy PC phải biết để quản lý và điều khiển chúng.
* Ngày, giờ (Date/Day/Time):
Bạn khai báo ngày tháng năm vào mục nầy. Khai báo nầy sẽ được máy tính xem là thông tin gốc và sẽ bắt đầu tính từ đây trở đi. Các thông tin về ngày giờ được sử dụng khi các bạn tạo hay thao tác với các tập tin, thư mục. Có chương trình khi chạy cũng cần thông tin nầy, thí dụ để báo cho bạn cập nhật khi quá hạn, chấm dứt hoạt động khi đến ngày quy định...Bình thường bạn Set sai hay không Set cũng chẳng nh hưởng gì đến hoạt động của máy. Các thông tin nầy có thể sửa chữa trực tiếp ngoài Dos bằng 2 lịnh Date và Time, hay bằng Control Panel của Windows mà không cần vào Bios Setup.
Chú ý: Ðồng hồ máy tính luôn luôn chạy chậm khong vài giây/ngày, thỉnh thoảng bạn nên chỉnh lại giờ cho đúng. Nhưng nếu quá chậm là có vấn đề cần phải thay mainboard.
* ổ đĩa mềm (Drive A/B):
Khai báo loại ổ đĩa cho ổ A và ổ B, bạn căn cứ vào việc nối dây cho ổ đĩa để xác định. ổ đĩa nối với đầu nối ngoài cùng của dây nối là ổ A, ổ kia là B. ổ có kích thước lớn là 1.2M 5.25 inch, ổ nhỏ là 1.44M 3.5 inch. Nếu không có thì chọn Not Installed. Nếu bạn khai báo sai, ổ đĩa sẽ không hoạt động chớ không hư hỏng gì, bạn chỉ cần khai báo lại. Trong các mainboard sử dụng Bios đời mới, khai báo sai loại ổ dĩa 1.2Mb thành 1.4Mb hay ngược lại, ổ dĩa vẫn hoạt động bình thường nhưng kêu rất lớn lúc mới bắt đầu đọc đĩa, về lâu dài có thể hư đĩa.
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép bạn tráo đổi 2 ổ đĩa mềm mà không cần tráo đổi dây (swap floppy drive), tức là ổ A thành ổ B và ngược lại khi sử dụng. Khi tráo đổi bằng cách Set jumper trên card I/O, bạn nhớ khai báo lại trong Bios Setup (Khi tráo bằng lịnh Swap trong Bios thì không cần khai báo lại), nhưng có ứng dụng không chịu cài đặt khi Swap đĩa mềm, nhất là các ứng dụng có bảo vệ chống sao chép.
* ổ đĩa cứng (Drive C/D) loại IDE:
Phần khai báo ổ đĩa cứng rắc rối hơn, bắt buộc bạn phải khai báo chi tiết các thông số, bạn khai báo sai không những ổ cứng không hoạt động mà đôi khi còn làm hư ổ cứng nếu bạn khai báo quá dung lượng thật sự của ổ cứng và cho tiến hành FDISK, FORMAT theo dung lượng sai nầy. May mắn là các Bios sau nầy đều có phần dò tìm thông số ổ cứng IDE tự động (IDE HDD auto detection) nên các bạn khỏi mắc công nhớ khi sử dụng ổ đĩa cứng loại IDE. Chúng tôi sẽ nói về phần auto detect nầy sau. Ngoài ra, các ổ cứng sau nầy đều có ghi thông số trên nhãn dán trên mặt. Bạn cho chạy Auto detect, Bios sẽ tự động điền các thông số nầy dùm bạn. Việc khai báo ổ cứng C và D đòi hỏi phải đúng với việc Set các jumper trên 2 ổ cứng. Bạn xác lập ổ cứng không phải qua đầu nối dây mà bằng các jumper trên mạch điều khiển ổ cứng. Các ổ cứng đời mới chỉ có một jumper 3 vị trí: ổ duy nhất, ổ Master (ổ C), ổ Slave (ổ D) và có ghi rõ cách Set trên nhãn. Các ổ đĩa cứng đời cũ nhiều jumper hơn nên nếu không có tài liệu hướng dẫn là rắc rối, phải mò mẫm rất lâu.
* ổ đĩa cứng (Drive E/F) loại IDE:
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép gắn 4 ổ dĩa cứng, vì hiện nay các ổ dĩa CDROM cũng sử dụng đầu nối ổ cứng để hoạt động, gọi là CDROM Interface IDE (giao diện đĩa IDE) để đơn giản việc lắp đặt.
Chú ý: Khai báo là NONE trong Bios Setup cho ổ đĩa CD-ROM.
* Màn hình (Video) - Primary Display:
EGA/VGA: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu EGA hay VGA, Super VGA.
CGA 40/CGA 80: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu CGA 40 cột hay CGA 80 cột.
Mono: Dành cho loại màn hình sử dụng card trắng đen, kể c card VGA khi dùng màn hình trắng đen.
* Treo máy nếu phát hiện lỗi khi khởi động (Error Halt):
Tất cả lỗi (All error): Treo máy khi phát hiện bất cứ lỗi nào trong quá trình kiểm tra máy, bạn không nên chọn mục nầy vì Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên nên bạn không thể biết các lỗi khác, nếu có.
Bỏ qua lỗi của Keyboard (All, But Keyboard): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của bàn phím.
Bỏ qua lỗi đĩa (All, But Diskette): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của đĩa.
Bỏ qua lỗi đĩa và bàn phím (All, But Disk/Key): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của ổ đĩa và bàn phím.
Không treo máy khi có lỗi (No error): Tiến hành quá trình kiểm tra máy cho đến khi hoàn tất dù phát hiện bất cứ lỗi gì. Bạn nên chọn mục nầy để biết máy bị trục trặc ở bộ phận nào mà có phương hướng giải quyết.
* Keyboard:
Install: Cho kiểm tra bàn phím trong quá trình khởi động, thông báo trên màn hình nếu bàn phím có lỗi.
Not Install: Không kiểm tra bàn phím khi khởi động. Chú ý: chọn mục nầy không có nghĩa là vô hiệu hoá bàn phím vì nếu vậy làm sao điều khiển máy. Nó chỉ có tác dụng cho Bios khỏi mất công kiểm tra bàn phím nhằm rút ngắn thời gian khởi động.
2. Setup các thành phần nâng cao (Advanced Setup):
* Virut Warning:
Nếu Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy khi có hành động viết vào Boot sector hay Partition của đĩa cứng. Nếu bạn cần chạy chương trình có thao tác vào 2 nơi đó như: Fdisk, Format... bạn cần phải Disable mục nầy.
* Internal cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) Cache (L1) nội trong CPU 486 trở lên.
* External cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) cache trên mainboard, còn gọi là Cache mức 2 (L2).
* Quick Power On Self Test:
Nếu enable Bios sẽ rút ngắn và bỏ qua vài mục không quan trọng trong quá trình khởi động, để giảm thời gian khởi động tối đa.
* About 1 MB Memory Test:
Nếu Enable Bios sẽ kiểm tra tất cả bộ nhớ. Nếu Disable Bios chỉ kiểm tra 1 Mb bộ nhớ đầu tiên.
* Memory Test Tick Sound:
Cho phát âm thanh (enable) hay không (disable) trong thời gian test bộ nhớ.
* Extended Bios Ram Area:
Khai báo mục nầy nếu muốn dùng 1 Kb trên đỉnh của bộ nhớ quy ước, tức Kb bắt đầu từ địa chỉ 639K hay 0:300 của vùng Bios hệ thống trong bộ nhớ quy ước để lưu các thông tin về đĩa cứng. Xác lập có thể là 1K hay 0:300.
* Swap Floppy Drive:
Tráo đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục nầy bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như khi tráo bằng cách Set jumper trên card I/O.
* Boot Sequence:
Chọn ổ đĩa cho Bios tìm hệ điều hành khi khởi động. Có thể là C rồi đến A hay A rồi đến C hay chỉ có C. Bạn nên chọn C,A hay chỉ có C, để đề phòng trường hợp vô tình khởi động bằng đĩa mềm có Virus.
Hiện nay trên các Mainboard Pentium. Bios cho phép bạn chỉ định khởi động từ 1 trong 2 ổ mềm hay trong 4 ổ cứng IDE hay bằng ổ cứng SCSI thậm chí bằng ổ CD Rom cũng được.
* Boot Up Floppy Seek:
Nếu Enable Bios sẽ dò tìm kiểu của đĩa mềm là 80 track hay 40 track. Nếu Disable Bios sẽ bỏ qua. Chọn enable làm chậm thời gian khởi động vì Bios luôn luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng, mặc dù bạn đã chọn chỉ khởi động bằng ổ C.
* Boot Up Numlock Status:
Nếu ON là cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng) sau khi khởi động, nhóm phím bên tay phải bàn phím dùng để đánh số. Nếu OFF là cho phím Numlock tắt (đèn Numlock tối), nhóm phím bên tay phải dùng để di chuyển con trỏ.
* Boot Up System Speed:
Quy định tốc độ của CPU trong thời gian khởi động là High (cao) hay Low (thấp).
* Memory Parity Check:
Kiểm tra chẵn lẻ bộ nhớ. Chọn theo mainboard vì có loại cho phép mục nầy enable, có loại bắt bạn phải disable mới chịu chạy. Ðầu tiên bạn chọn enable, nếu máy treo bạn chọn lại là disable. Mục nầy không ảnh hưởng đến hệ thống, chỉ có tác dụng kiểm tra Ram.
* IDE HDD Block Mode:
Nếu ổ đĩa cứng của bạn hỗ trợ kiểu vận chuyển dữ liệu theo từng khối (các ổ đĩa đời mới có dung lượng cao). Bạn cho enable để tăng tốc cho ổ đĩa. Nếu ổ đĩa đời cũ bạn cho disable mục nầy.
* Pri. Master/Slave LBA (Logic Block Addressing) Mode:
Nếu 2 ổ đĩa cứng được nối vào đầu nối Primary của card I/O có dung lượng lớn hơn 528Mb, bạn cho enable mục nầy.
* Sec. IDE Ctrl Drives Install:
Mục nầy để khai báo máy bạn có ổ đĩa cứng nối vào đầu nối Secondary của card I/O. Các chỉ định có thể là Master, Mst/Slv và disable.
* Sec Master/Slave LBA Mode:
Xác lập LBA cho đầu nối thứ 2.
Chú ý: Các mục hỗ trợ cho ổ đĩa cứng có dung lượng lớn và các card I/O đời mới giúp bạn sử dụng ổ đĩa có dung lượng trên 528Mb. Trong trường hợp bạn cho enable các mục nầy rồi mới tiến hành Fdisk và Format đĩa, nếu sau đó bạn lại disable các mục nầy hay đem gắn qua máy khác cũng chọn disable, bạn sẽ không thể sử dụng được ổ dĩa cứng. Khi dùng ổ CDROM có đầu nối IDE, bạn nên gắn vào đầu nối Secondary để khỏi ảnh hưởng đến ổ dĩa cứng (gắn vào đầu nối Pri) khi cần chạy 32BitDiskAccess trong Windows.
* Typematic Rate Setting:
Nếu enable là bạn cho 2 mục dưới đây có hiệu lực. 2 mục nầy thay thế lịnh Mode của DOS, quy định tốc độ và thời gian trể của bàn phím.
* Typematic Rate (Chars/Sec):
Bạn lựa chọn số ký tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm của bạn. Nếu bạn Set thấp hơn tốc độ đánh thì máy sẽ phát tiếng Bip khi nó chạy theo không kịp.
* Typematic Delay (Msec):
Chỉ định thời gian lập lại ký tự khi bạn bấm và giữ luôn phím, tính bằng mili giây.
* Security Option:
Mục nầy dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios Setup.
Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup, mỗi khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đã quy định trước.
System hay Always: Giới hạn việc sử dụng máy. Mỗi khi mở máy, Bios luôn luôn hỏi mật khẩu, nếu không biết mật khẩu Bios sẽ không cho phép sử dụng máy.
Chú ý: Trong trường hợp bạn chưa chỉ định mật khẩu, để Disable (vô hiệu hoá) mục nầy, bạn chọn Password Setting, bạn đừng đánh gì vào các ô nhập mật khẩu mà chỉ cần bấm ENTER. Trong trường hợp bạn đã có chỉ định mật khẩu nay lại muốn bỏ đi. Bạn chọn Password Setting, bạn đánh mật khẩu cũ vào ô nhập mật khẩu cũ (Old Password) còn trong ô nhập mật khẩu mới (New Password) bạn đừng đánh gì cả mà chỉ cần bấm ENTER. Có mainboard thiết kế thêm 1 jumper để xoá riêng mật khẩu ngoài jumper để xoá toàn bộ thông tin trong CMOS. Tốt hơn hết là bạn đừng sử dụng mục nầy vì bản thân chúng tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp dở khóc dở cười do mục nầy gây ra. Lợi ít mà hại nhiều. Chỉ những máy tính công cộng mới phải sử dụng tới mục nầy thôi.
* System Bios Shadow, Video Bios Shadow:
Nếu enable là cho copy các dữ liệu về System và Video trong Bios (có tốc độ chậm) vào Ram (tốc độ nhanh) để rút ngắn thời gian khi cần truy nhập vào các dữ liệu nầy.
* Wait for if Any Error:
Cho hiện thông báo chờ ấn phím F1 khi có lỗi.
* Numeric Processor:
Thông báo có gắn CPU đồng xử lý (Present) trên máy hay không (absent). Mục nầy thường có cho các máy dùng CPU 286, 386, 486SX. Từ 486DX trở về sau đã có con đồng xử lý bên trong CPU nên trên các máy mới có thể không có mục nầy.
* Turbo Switch Funtion:
Cho nút Turbo có hiệu lực (enable) hay không (disable). Mục nầy thường thấy ở các Bios đời củ, trên các máy đời mới lựa chọn nầy thường bằng cách Set jumper của Mainboard. Từ Mainboard pentium trở đi không có mục nầy.
3. Setup các thành phần có liên quan đến vận hành hệ thống (Chipset Setup):
* Auto Configuration:
Nếu enable, Bios sẽ tự động xác lập các thành phần về DRAM, Cache...mỗi khi khởi động tùy theo CPU Type (kiểu CPU) và System Clock (tốc độ hệ thống). Nếu Disable là để cho bạn tự chỉ định.
* AT Clock Option:
Nếu Async (không đồng bộ) là lấy dao động chuẩn của bộ dao động thạch anh chia đôi làm tốc độ hoạt động cho AT Bus (bus 8 - 16Bit). Thường là 14.318MHz/2 tức 7.159MHz. Có Bios còn cho chọn tốc độ của mục nầy là 14.318MHz. Nếu Sync (đồng bộ) là dùng System Clock (do bạn chỉ định bằng cách Set jumper trên mainboard) làm tốc độ chuẩn.
* Synchronous AT Clock/AT Bus Clock Selector:
Chỉ định tốc độ hoạt động cho AT Bus bằng cách lấy tốc độ chuẩn (system clock) chia nhỏ để còn lại khoảng 8MHz cho phù hợp với card 16Bit. Các lựa chọn như sau:
CLKI/3 khi system clock là 20 - 25MHz.
CLKI/4 khi system clock là 33MHz.
CLKI/5 khi system clock là 40MHz.
CLKI/6 khi system clock là 50MHz.
Tốc độ nầy càng lớn (số chia càng nhỏ), máy chạy càng nhanh do tăng tốc độ vận chuyển dữ liệu. Tuy nhiên lớn đến đâu là còn tùy thuộc vào mainboard và card cắm trên các Slot (quan trọng nhất là card I/O). Các bạn phải thí nghiệm giảm số chia từng nấc và chú ý máy có khởi động hay đọc đĩa bình thường không, nếu phát sinh trục trặc thì giảm xuống 1 nấc. Thường thì bạn có thể tăng được 2 nấc, thí dụ: System clock là 40MHz, bạn chọn CLKI/3. Card ISA 8 và 16 Bit có thể chạy tốt trong khoảng từ 8MHz đến 14MHz. Nếu nhanh quá, thường card I/O gặp trục trặc trước (không đọc được đĩa cứng).
* AT Cycle Wait States/Extra AT Cycle WS:
Ðể enable hay disable việc chèn thêm 1 thời gian chờ vào thời gian chuẩn của AT Bus. Nếu system clock dưới 33MHz chọn disable. Nếu trên 33MHz chọn enable.
* Fast AT Cycle:
Khi enable sẽ rút ngắn thời gian chuẩn của AT Bus.
* DRAM Read Wait States/DRAM Brust Cycle:
Dưới 33MHz là: 3 - 2 - 2 - 2 hay 2 - 1 - 1 - 1
Từ 33 - 45MHz là: 4 - 3 - 3 - 3 hay 2 - 2 - 2 - 2
50MHz là: 5 - 4 - 4 - 4 hay 3 - 2 - 2 - 2
Chọn mục nầy ảnh hưởng lớn đến tốc độ CPU.
* DRAM/Memory Write Wait States:
Chọn 1WS khi hệ thống nhanh hay DRAM chậm (tốc độ 40MHz trở lên). Chọn 0WS khi hệ thống và DRAM có thể tương thích (33MHz trở xuống).
* Hidden Refresh Option:
Khi enable, CPU sẽ làm việc nhanh hơn do không phải chờ mỗi khi DRAM được làm tươi.
* Slow Refresh Enable:
Mục nầy nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu trên DRAM, thời gian làm tươi sẽ kéo dài hơn bình thường. Bạn chỉ được enable mục nầy khi bộ nhớ của máy hỗ trợ việc cho phép làm tươi chậm.
* L1 Cache Mode:
Lựa chọn giữa Write-Through và Write-Back cho Cache nội trong CPU 486 trở lên. Xác lập Write-Through máy sẽ chạy chậm hơn Write-Back nhưng việc lực chọn còn tuỳ thuộc vào loại CPU.
* L2 Cache Mode:
Xác lập cho cache trên mainboard.
* IDE HDD Auto Detection/IDE SETUP:
Khi chọn mục nầy sẽ xuất hiện một cửa sổ cho bạn chỉ định ổ đĩa cần dò tìm thông số (2 hay 4 ổ đĩa tuỳ theo Bios). Sau đó bạn bấm OK hay YES để Bios điền vào phần Standard dùm cho bạn. Trong Bios đời mới, Auto detect có thể đưa ra vài loại ổ đĩa. Tuỳ theo cách sử dụng ổ dĩa (normal, LBA,...) mà bạn chọn loại thích hợp.
* Power Management Setup:
Ðối với CPU 486:
Phần nầy là các chỉ định cho chương trình tiết kiệm năng lượng sẵn chứa trong các Bios đời mới. Chương trình nầy dùng được cho cả 2 loại CPU: Loại thường và loại CPU kiểu S. CPU kiểu S hay CPU có 2 ký tự cuối SL là một loại CPU được chế tạo đặc biệt, có thêm bộ phận quản lý năng lượng trong CPU. Do đó trong phần nầy có 2 loại chỉ định dành cho 2 loại CPU.
Ðối với Pentium:
Dùng chung cho mọi loại Pentium hay các chíp của các hảng khác cùng đời với Pentium.
* Power Management/Power Saving Mode:
Disable: Không sử dụng chương trình nầy.
Enable/User Define: Cho chương trình nầy có hiệu lực.
Min Saving: Dùng các giá trị thời gian dài nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm năng lượng ít nhất).
Max Saving: Dùng các giá trị thời gian ngắn nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm nhiều nhất).
* Pmi/Smi:
Nếu chọn SMI là máy đang gắn CPU kiểu S của hãng Intel. Nếu chọn Auto là máy đang gắn CPU thường.
* Doze Timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Khi đúng thời gian máy đã rảnh (không nhận được tín hiệu từ các ngắt) theo quy định, CPU tự động hạ tốc độ xuống còn 8MHz. Bạn chọn thời gian theo ý bạn (có thể từ 10 giây đến 4 giờ) hay disable nếu không muốn sử dụng mục nầy.
* Sleep Timer/Standby timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Chỉ định thời gian máy rảnh trước khi vào chế độ Sleep (ngưng hoạt động). Thời gian có thể từ 10 giây đến 4 giờ.
* Sleep Clock:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S: Stop CPU hạ tốc độ xuống còn 0MHz (ngưng hẳn). Slow CPU hạ tốc độ xuống còn 8MHz.
* HDD Standby Timer/HDD Power Down:
Chỉ định thời gian ngừng motor của ổ đĩa cứng.
* CRT Sleep:
Nếu Enable là màn hình sẽ tắt khi máy vào chế độ Sleep.
* Chỉ định:
Các chỉ định cho chương trình quản lý nguồn biết cần kiểm tra bộ phận nào khi chạy.
Chú ý: Do Bios được sản xuất để sử dụng cho nhiều loại máy khác nhau nên các bạn luôn luôn gặp phần nầy trong các Bios. Thực ra chúng chỉ có giá trị cho các máy xách tay (laptop) vì xài pin nên vấn đề tiết kiệm năng lượng được đặt lên hàng đầu. Chúng tôi khuyên các bạn đang sử dụng máy để bàn (desktop) nên vô hiệu hoá tất cả các mục trong phần nầy, để tránh các tình huống bất ngờ như: đang cài chương trình, tự nhiên máy ngưng hoạt động, đang chạy Defrag tự nhiên máy chậm cực kỳ...
4. Phần dành riêng cho Mainboard theo chuẩn giao tiếp PCI có I/O và IDE On Board (peripheral Setup):
* PCI On Board IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) 2 đầu nối ổ đĩa cứng IDE trên mainboard. Khi sử dụng Card PCI IDE rời, ta cần chọn disabled.
* PCI On Board Secondary IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) đầu nối ổ đĩa cứng IDE thứ 2 trên mainboard. Mục nầy bổ sung cho mục trên và chỉ có tác dụng với đầu nối thứ 2.
* PCI On Board Speed Mode:
Chỉ định kiểu vận chuyển dữ liệu (PIO speed mode). Có thể là Disabled, mode 1, mode 2, mode 3, mode 4, Auto. Trong đó mode 4 là nhanh nhất.
* PCI Card Present on:
Khai báo có sử dụng Card PCI IDE rời hay không và nếu có thì được cắm vào Slot nào. Các mục chọn là: Disabled, Auto, Slot 1, Slot 2, Slot 3, Slot 4.
* PCI IRQ, PCI Primary IDE IRQ, PCI Secondary IDE IRQ:
Chỉ định cách xác lập ngắt cho Card PCI IDE rời.
Chú ý: Trong mục nầy có phần xác lập thứ tự gán ngắt cho các Card bổ sung. Thí dụ: 1 = 9, 2 = 10, 3 = 11, 4 = 12 có nghĩa là Card đầu tiên cắm vào bất kỳ Slot nào sẽ được gán ngắt 9, nếu có 2 Card thì Card cắm vào Slot có số thứ tự nhỏ sẽ được gán ngắt 9, Slot có số thứ tự lớn sẽ được gán ngắt 10.v..v...
* IDE 32Bit Transfers Mode:
Xác lập nầy nhằm tăng cường tốc độ cho ổ đĩa cứng trên 528Mb, nhưng cũng có ổ đĩa không khởi động được khi enabled mục nầy dù fdisk và format vẫn bình thường.
* Host to PCI Post Write W/S, Host to PCI Burst Write, Host to DRAM Burst Write:
Các mục nầy xác lập cho PCU Bus, không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ CPU, có thể để nguyên xác lập mặc nhiên.
* PCI Bus Park, Post Write Buffer:
Khi enabled các mục nầy có thể tăng cường thêm tốc độ hệ thống.
* FDC Control:
Cho hiệu lực hay không đầu nối cáp và xác lập địa chỉ cho ổ đĩa mềm.
* Primary Seral Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
* Secondary Serial Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 2 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy. Chú ý: Nếu bạn sử dụng Card bổ sung có xác lập điạ chỉ là COM 1 hay COM 2, bạn phải disabled cổng tương ứng trong hai mục trên.
* Parallel Port:
Cho hiệu lực hay không cổng LPT 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
5. Hướng dẫn Setup Bios:
Trong các tài liệu đi kèm mainboard, đều có hướng dẫn Setup Bios. Khi mua máy hay mua mainboard, các bạn nhớ đòi các tài liệu nầy vì nó rất cần cho việc sử dụng máy.
Trong các phần Setup trên, phần Standard, Advanced có ảnh hưởng đến việc cấu hình máy. Phần Chipset ảnh hưởng đến tốc độ máy. Phần PCI ảnh hưởng đến các gán ngắt, địa chỉ cho các Slot PCI, cổng; cách vận chuyển dữ liệu cho IDE On Board.
Nếu gặp các thành phần hoàn toàn mới, trước tiên bạn hãy Set các thành phần đã biết, kiểm tra việc thay đổi của máy, cuối cùng mới Set tới các thành phần chưa biết. Chúng tôi xin nhắc lại, việc Setup Bios sai không bao giờ làm hư máy và các bạn sẽ dễ dàng Setup lại nhờ vào chính Bios. Trên mainboard luôn luôn có 1 Jumper dùng để xóa các thông tin lưu trong CMOS để bạn có thể tạo lại các thông tin nầy trong trường hợp không thể vào lại Bios Setup khi khởi động máy.
Khi tiến hành tìm hiểu Setup Bios, bạn nên theo một nguyên tắc sau: Chỉ Set từng mục một rồi khởi động máy lại, chạy các chương trình kiểm tra để xem tốc độ CPU, ổ đĩa có thay đổi gì không?. Cách làm nầy gíúp bạn phát hiện được ảnh hưởng của từng mục vào hệ thống và bạn có thể biết chắc trục trặc phát sinh do mục nào để sửa chữa. Khi xẩy ra trục trặc mà bạn không biết đối phó, bạn chỉ cần vào lại Bios Setup chọn Load Bios Default hay bấm F6 trong phần Set mà bạn muốn phục hồi sau đó khởi động máy lại là xong.
Xem bai viet voi font ABC
Khi khởi động máy lần đầu tiên, máy tính sẽ đọc một tập hợp dữ liệu được lưu trong CMOS (một chip bộ nhớ đặc biệt luôn hoạt động nhờ 1 cục pin nhỏ), không có thông tin nầy máy tính sẽ bị tê liệt. Việc xác lập các thông tin nầy gọi là Setup Bios và bao giờ người bán cũng phải làm thủ tục Setup Bios ngay sau khi ráp máy. Nhưng bạn cũng phải biết cách Setup Bios để đề phòng trường hợp máy tự mất các thông tin lưu trong Bios vì các lý do như: Hết pin, nhiễu điện, virus...Hiện nay, người ta dùng Flash Ram để lưu thông tin Bios nên không cần phải có Pin nuôi trên mainboard. Tùy Mainboard, các mục trong Bios có thể khác nhau theo từng hãng chế tạo (Award, Ami, Pheonix...) nhưng về căn bản chúng vẫn giống nhau và trong phần nầy chủ yếu bàn về căn bản, còn các tính năng riêng bạn phải chịu khó tìm hiểu thêm nhờ vào các kiến thức căn bản nầy.
Màn hình Bios Setup đa số là màn hình chạy ở chế độ TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn hình Setup gồm nhiều cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các mục vẫn không thay đổi.
Chú ý thao tác để vào Bios Setup là: Bấm phím Del khi mới khởi động máy đối với máy Ðài Loan. Ðối với các máy Mỹ, thường là bạn phải thông qua chương trình quản lý máy riêng của từng hãng nếu muốn thay đổi các thông số của Bios.
* Bios thường: Di chuyển vệt sáng để lựa chọn mục bằng các phím mũi tên. Thay đổi giá trị của mục đang Set bằng 2 phím Page Up và Page Dn. Sau đó nhấn phím Esc để thoát khỏi mục (giá trị mới sẽ được lưu trữ). Nhấn F10 để thoát Setup Bios nếu muốn lưu các thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để lưu, N để không lưu. Nhấn Esc nếu muốn thoát mà không lưu thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để không lưu, N để trở lại màn hình Setup Bios.
* Bios Win: Màn hình Setup xuất hiện dưới dạng đồ họa gồm nhiều cửa sổ, sử dụng được mouse nếu bạn có mouse loại: PS/2 mouse, Microsoft mouse, Serial mouse, Logitect C mouse. Dùng mouse bấm kép vào cửa sổ để mở một thành phần, bấm vào mục cần thay đổi, một cửa sổ liệt kê giá trị xuất hiện, bấm vào giá trị muốn chọn rồi thoát bằng cách bấm vào ô nhỏ ở góc trên bên trái. Nếu không có mouse, dùng các phím mũi tên để di chuyển, đến mục cần thay đổi bấm Enter, xuất hiện hộp liệt kê, chọn giá trị mới, bấm Enter, cuối cùng bấm Esc.
1. Setup các thành phần căn bản (Standard CMOS Setup):
Ðây là các thành phần cơ bản mà Bios trên tất cả các loại máy PC phải biết để quản lý và điều khiển chúng.
* Ngày, giờ (Date/Day/Time):
Bạn khai báo ngày tháng năm vào mục nầy. Khai báo nầy sẽ được máy tính xem là thông tin gốc và sẽ bắt đầu tính từ đây trở đi. Các thông tin về ngày giờ được sử dụng khi các bạn tạo hay thao tác với các tập tin, thư mục. Có chương trình khi chạy cũng cần thông tin nầy, thí dụ để báo cho bạn cập nhật khi quá hạn, chấm dứt hoạt động khi đến ngày quy định...Bình thường bạn Set sai hay không Set cũng chẳng nh hưởng gì đến hoạt động của máy. Các thông tin nầy có thể sửa chữa trực tiếp ngoài Dos bằng 2 lịnh Date và Time, hay bằng Control Panel của Windows mà không cần vào Bios Setup.
Chú ý: Ðồng hồ máy tính luôn luôn chạy chậm khong vài giây/ngày, thỉnh thoảng bạn nên chỉnh lại giờ cho đúng. Nhưng nếu quá chậm là có vấn đề cần phải thay mainboard.
* ổ đĩa mềm (Drive A/B):
Khai báo loại ổ đĩa cho ổ A và ổ B, bạn căn cứ vào việc nối dây cho ổ đĩa để xác định. ổ đĩa nối với đầu nối ngoài cùng của dây nối là ổ A, ổ kia là B. ổ có kích thước lớn là 1.2M 5.25 inch, ổ nhỏ là 1.44M 3.5 inch. Nếu không có thì chọn Not Installed. Nếu bạn khai báo sai, ổ đĩa sẽ không hoạt động chớ không hư hỏng gì, bạn chỉ cần khai báo lại. Trong các mainboard sử dụng Bios đời mới, khai báo sai loại ổ dĩa 1.2Mb thành 1.4Mb hay ngược lại, ổ dĩa vẫn hoạt động bình thường nhưng kêu rất lớn lúc mới bắt đầu đọc đĩa, về lâu dài có thể hư đĩa.
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép bạn tráo đổi 2 ổ đĩa mềm mà không cần tráo đổi dây (swap floppy drive), tức là ổ A thành ổ B và ngược lại khi sử dụng. Khi tráo đổi bằng cách Set jumper trên card I/O, bạn nhớ khai báo lại trong Bios Setup (Khi tráo bằng lịnh Swap trong Bios thì không cần khai báo lại), nhưng có ứng dụng không chịu cài đặt khi Swap đĩa mềm, nhất là các ứng dụng có bảo vệ chống sao chép.
* ổ đĩa cứng (Drive C/D) loại IDE:
Phần khai báo ổ đĩa cứng rắc rối hơn, bắt buộc bạn phải khai báo chi tiết các thông số, bạn khai báo sai không những ổ cứng không hoạt động mà đôi khi còn làm hư ổ cứng nếu bạn khai báo quá dung lượng thật sự của ổ cứng và cho tiến hành FDISK, FORMAT theo dung lượng sai nầy. May mắn là các Bios sau nầy đều có phần dò tìm thông số ổ cứng IDE tự động (IDE HDD auto detection) nên các bạn khỏi mắc công nhớ khi sử dụng ổ đĩa cứng loại IDE. Chúng tôi sẽ nói về phần auto detect nầy sau. Ngoài ra, các ổ cứng sau nầy đều có ghi thông số trên nhãn dán trên mặt. Bạn cho chạy Auto detect, Bios sẽ tự động điền các thông số nầy dùm bạn. Việc khai báo ổ cứng C và D đòi hỏi phải đúng với việc Set các jumper trên 2 ổ cứng. Bạn xác lập ổ cứng không phải qua đầu nối dây mà bằng các jumper trên mạch điều khiển ổ cứng. Các ổ cứng đời mới chỉ có một jumper 3 vị trí: ổ duy nhất, ổ Master (ổ C), ổ Slave (ổ D) và có ghi rõ cách Set trên nhãn. Các ổ đĩa cứng đời cũ nhiều jumper hơn nên nếu không có tài liệu hướng dẫn là rắc rối, phải mò mẫm rất lâu.
* ổ đĩa cứng (Drive E/F) loại IDE:
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép gắn 4 ổ dĩa cứng, vì hiện nay các ổ dĩa CDROM cũng sử dụng đầu nối ổ cứng để hoạt động, gọi là CDROM Interface IDE (giao diện đĩa IDE) để đơn giản việc lắp đặt.
Chú ý: Khai báo là NONE trong Bios Setup cho ổ đĩa CD-ROM.
* Màn hình (Video) - Primary Display:
EGA/VGA: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu EGA hay VGA, Super VGA.
CGA 40/CGA 80: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu CGA 40 cột hay CGA 80 cột.
Mono: Dành cho loại màn hình sử dụng card trắng đen, kể c card VGA khi dùng màn hình trắng đen.
* Treo máy nếu phát hiện lỗi khi khởi động (Error Halt):
Tất cả lỗi (All error): Treo máy khi phát hiện bất cứ lỗi nào trong quá trình kiểm tra máy, bạn không nên chọn mục nầy vì Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên nên bạn không thể biết các lỗi khác, nếu có.
Bỏ qua lỗi của Keyboard (All, But Keyboard): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của bàn phím.
Bỏ qua lỗi đĩa (All, But Diskette): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của đĩa.
Bỏ qua lỗi đĩa và bàn phím (All, But Disk/Key): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của ổ đĩa và bàn phím.
Không treo máy khi có lỗi (No error): Tiến hành quá trình kiểm tra máy cho đến khi hoàn tất dù phát hiện bất cứ lỗi gì. Bạn nên chọn mục nầy để biết máy bị trục trặc ở bộ phận nào mà có phương hướng giải quyết.
* Keyboard:
Install: Cho kiểm tra bàn phím trong quá trình khởi động, thông báo trên màn hình nếu bàn phím có lỗi.
Not Install: Không kiểm tra bàn phím khi khởi động. Chú ý: chọn mục nầy không có nghĩa là vô hiệu hoá bàn phím vì nếu vậy làm sao điều khiển máy. Nó chỉ có tác dụng cho Bios khỏi mất công kiểm tra bàn phím nhằm rút ngắn thời gian khởi động.
2. Setup các thành phần nâng cao (Advanced Setup):
* Virut Warning:
Nếu Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy khi có hành động viết vào Boot sector hay Partition của đĩa cứng. Nếu bạn cần chạy chương trình có thao tác vào 2 nơi đó như: Fdisk, Format... bạn cần phải Disable mục nầy.
* Internal cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) Cache (L1) nội trong CPU 486 trở lên.
* External cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) cache trên mainboard, còn gọi là Cache mức 2 (L2).
* Quick Power On Self Test:
Nếu enable Bios sẽ rút ngắn và bỏ qua vài mục không quan trọng trong quá trình khởi động, để giảm thời gian khởi động tối đa.
* About 1 MB Memory Test:
Nếu Enable Bios sẽ kiểm tra tất cả bộ nhớ. Nếu Disable Bios chỉ kiểm tra 1 Mb bộ nhớ đầu tiên.
* Memory Test Tick Sound:
Cho phát âm thanh (enable) hay không (disable) trong thời gian test bộ nhớ.
* Extended Bios Ram Area:
Khai báo mục nầy nếu muốn dùng 1 Kb trên đỉnh của bộ nhớ quy ước, tức Kb bắt đầu từ địa chỉ 639K hay 0:300 của vùng Bios hệ thống trong bộ nhớ quy ước để lưu các thông tin về đĩa cứng. Xác lập có thể là 1K hay 0:300.
* Swap Floppy Drive:
Tráo đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục nầy bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như khi tráo bằng cách Set jumper trên card I/O.
* Boot Sequence:
Chọn ổ đĩa cho Bios tìm hệ điều hành khi khởi động. Có thể là C rồi đến A hay A rồi đến C hay chỉ có C. Bạn nên chọn C,A hay chỉ có C, để đề phòng trường hợp vô tình khởi động bằng đĩa mềm có Virus.
Hiện nay trên các Mainboard Pentium. Bios cho phép bạn chỉ định khởi động từ 1 trong 2 ổ mềm hay trong 4 ổ cứng IDE hay bằng ổ cứng SCSI thậm chí bằng ổ CD Rom cũng được.
* Boot Up Floppy Seek:
Nếu Enable Bios sẽ dò tìm kiểu của đĩa mềm là 80 track hay 40 track. Nếu Disable Bios sẽ bỏ qua. Chọn enable làm chậm thời gian khởi động vì Bios luôn luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng, mặc dù bạn đã chọn chỉ khởi động bằng ổ C.
* Boot Up Numlock Status:
Nếu ON là cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng) sau khi khởi động, nhóm phím bên tay phải bàn phím dùng để đánh số. Nếu OFF là cho phím Numlock tắt (đèn Numlock tối), nhóm phím bên tay phải dùng để di chuyển con trỏ.
* Boot Up System Speed:
Quy định tốc độ của CPU trong thời gian khởi động là High (cao) hay Low (thấp).
* Memory Parity Check:
Kiểm tra chẵn lẻ bộ nhớ. Chọn theo mainboard vì có loại cho phép mục nầy enable, có loại bắt bạn phải disable mới chịu chạy. Ðầu tiên bạn chọn enable, nếu máy treo bạn chọn lại là disable. Mục nầy không ảnh hưởng đến hệ thống, chỉ có tác dụng kiểm tra Ram.
* IDE HDD Block Mode:
Nếu ổ đĩa cứng của bạn hỗ trợ kiểu vận chuyển dữ liệu theo từng khối (các ổ đĩa đời mới có dung lượng cao). Bạn cho enable để tăng tốc cho ổ đĩa. Nếu ổ đĩa đời cũ bạn cho disable mục nầy.
* Pri. Master/Slave LBA (Logic Block Addressing) Mode:
Nếu 2 ổ đĩa cứng được nối vào đầu nối Primary của card I/O có dung lượng lớn hơn 528Mb, bạn cho enable mục nầy.
* Sec. IDE Ctrl Drives Install:
Mục nầy để khai báo máy bạn có ổ đĩa cứng nối vào đầu nối Secondary của card I/O. Các chỉ định có thể là Master, Mst/Slv và disable.
* Sec Master/Slave LBA Mode:
Xác lập LBA cho đầu nối thứ 2.
Chú ý: Các mục hỗ trợ cho ổ đĩa cứng có dung lượng lớn và các card I/O đời mới giúp bạn sử dụng ổ đĩa có dung lượng trên 528Mb. Trong trường hợp bạn cho enable các mục nầy rồi mới tiến hành Fdisk và Format đĩa, nếu sau đó bạn lại disable các mục nầy hay đem gắn qua máy khác cũng chọn disable, bạn sẽ không thể sử dụng được ổ dĩa cứng. Khi dùng ổ CDROM có đầu nối IDE, bạn nên gắn vào đầu nối Secondary để khỏi ảnh hưởng đến ổ dĩa cứng (gắn vào đầu nối Pri) khi cần chạy 32BitDiskAccess trong Windows.
* Typematic Rate Setting:
Nếu enable là bạn cho 2 mục dưới đây có hiệu lực. 2 mục nầy thay thế lịnh Mode của DOS, quy định tốc độ và thời gian trể của bàn phím.
* Typematic Rate (Chars/Sec):
Bạn lựa chọn số ký tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm của bạn. Nếu bạn Set thấp hơn tốc độ đánh thì máy sẽ phát tiếng Bip khi nó chạy theo không kịp.
* Typematic Delay (Msec):
Chỉ định thời gian lập lại ký tự khi bạn bấm và giữ luôn phím, tính bằng mili giây.
* Security Option:
Mục nầy dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios Setup.
Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup, mỗi khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đã quy định trước.
System hay Always: Giới hạn việc sử dụng máy. Mỗi khi mở máy, Bios luôn luôn hỏi mật khẩu, nếu không biết mật khẩu Bios sẽ không cho phép sử dụng máy.
Chú ý: Trong trường hợp bạn chưa chỉ định mật khẩu, để Disable (vô hiệu hoá) mục nầy, bạn chọn Password Setting, bạn đừng đánh gì vào các ô nhập mật khẩu mà chỉ cần bấm ENTER. Trong trường hợp bạn đã có chỉ định mật khẩu nay lại muốn bỏ đi. Bạn chọn Password Setting, bạn đánh mật khẩu cũ vào ô nhập mật khẩu cũ (Old Password) còn trong ô nhập mật khẩu mới (New Password) bạn đừng đánh gì cả mà chỉ cần bấm ENTER. Có mainboard thiết kế thêm 1 jumper để xoá riêng mật khẩu ngoài jumper để xoá toàn bộ thông tin trong CMOS. Tốt hơn hết là bạn đừng sử dụng mục nầy vì bản thân chúng tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp dở khóc dở cười do mục nầy gây ra. Lợi ít mà hại nhiều. Chỉ những máy tính công cộng mới phải sử dụng tới mục nầy thôi.
* System Bios Shadow, Video Bios Shadow:
Nếu enable là cho copy các dữ liệu về System và Video trong Bios (có tốc độ chậm) vào Ram (tốc độ nhanh) để rút ngắn thời gian khi cần truy nhập vào các dữ liệu nầy.
* Wait for
Cho hiện thông báo chờ ấn phím F1 khi có lỗi.
* Numeric Processor:
Thông báo có gắn CPU đồng xử lý (Present) trên máy hay không (absent). Mục nầy thường có cho các máy dùng CPU 286, 386, 486SX. Từ 486DX trở về sau đã có con đồng xử lý bên trong CPU nên trên các máy mới có thể không có mục nầy.
* Turbo Switch Funtion:
Cho nút Turbo có hiệu lực (enable) hay không (disable). Mục nầy thường thấy ở các Bios đời củ, trên các máy đời mới lựa chọn nầy thường bằng cách Set jumper của Mainboard. Từ Mainboard pentium trở đi không có mục nầy.
3. Setup các thành phần có liên quan đến vận hành hệ thống (Chipset Setup):
* Auto Configuration:
Nếu enable, Bios sẽ tự động xác lập các thành phần về DRAM, Cache...mỗi khi khởi động tùy theo CPU Type (kiểu CPU) và System Clock (tốc độ hệ thống). Nếu Disable là để cho bạn tự chỉ định.
* AT Clock Option:
Nếu Async (không đồng bộ) là lấy dao động chuẩn của bộ dao động thạch anh chia đôi làm tốc độ hoạt động cho AT Bus (bus 8 - 16Bit). Thường là 14.318MHz/2 tức 7.159MHz. Có Bios còn cho chọn tốc độ của mục nầy là 14.318MHz. Nếu Sync (đồng bộ) là dùng System Clock (do bạn chỉ định bằng cách Set jumper trên mainboard) làm tốc độ chuẩn.
* Synchronous AT Clock/AT Bus Clock Selector:
Chỉ định tốc độ hoạt động cho AT Bus bằng cách lấy tốc độ chuẩn (system clock) chia nhỏ để còn lại khoảng 8MHz cho phù hợp với card 16Bit. Các lựa chọn như sau:
CLKI/3 khi system clock là 20 - 25MHz.
CLKI/4 khi system clock là 33MHz.
CLKI/5 khi system clock là 40MHz.
CLKI/6 khi system clock là 50MHz.
Tốc độ nầy càng lớn (số chia càng nhỏ), máy chạy càng nhanh do tăng tốc độ vận chuyển dữ liệu. Tuy nhiên lớn đến đâu là còn tùy thuộc vào mainboard và card cắm trên các Slot (quan trọng nhất là card I/O). Các bạn phải thí nghiệm giảm số chia từng nấc và chú ý máy có khởi động hay đọc đĩa bình thường không, nếu phát sinh trục trặc thì giảm xuống 1 nấc. Thường thì bạn có thể tăng được 2 nấc, thí dụ: System clock là 40MHz, bạn chọn CLKI/3. Card ISA 8 và 16 Bit có thể chạy tốt trong khoảng từ 8MHz đến 14MHz. Nếu nhanh quá, thường card I/O gặp trục trặc trước (không đọc được đĩa cứng).
* AT Cycle Wait States/Extra AT Cycle WS:
Ðể enable hay disable việc chèn thêm 1 thời gian chờ vào thời gian chuẩn của AT Bus. Nếu system clock dưới 33MHz chọn disable. Nếu trên 33MHz chọn enable.
* Fast AT Cycle:
Khi enable sẽ rút ngắn thời gian chuẩn của AT Bus.
* DRAM Read Wait States/DRAM Brust Cycle:
Dưới 33MHz là: 3 - 2 - 2 - 2 hay 2 - 1 - 1 - 1
Từ 33 - 45MHz là: 4 - 3 - 3 - 3 hay 2 - 2 - 2 - 2
50MHz là: 5 - 4 - 4 - 4 hay 3 - 2 - 2 - 2
Chọn mục nầy ảnh hưởng lớn đến tốc độ CPU.
* DRAM/Memory Write Wait States:
Chọn 1WS khi hệ thống nhanh hay DRAM chậm (tốc độ 40MHz trở lên). Chọn 0WS khi hệ thống và DRAM có thể tương thích (33MHz trở xuống).
* Hidden Refresh Option:
Khi enable, CPU sẽ làm việc nhanh hơn do không phải chờ mỗi khi DRAM được làm tươi.
* Slow Refresh Enable:
Mục nầy nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu trên DRAM, thời gian làm tươi sẽ kéo dài hơn bình thường. Bạn chỉ được enable mục nầy khi bộ nhớ của máy hỗ trợ việc cho phép làm tươi chậm.
* L1 Cache Mode:
Lựa chọn giữa Write-Through và Write-Back cho Cache nội trong CPU 486 trở lên. Xác lập Write-Through máy sẽ chạy chậm hơn Write-Back nhưng việc lực chọn còn tuỳ thuộc vào loại CPU.
* L2 Cache Mode:
Xác lập cho cache trên mainboard.
* IDE HDD Auto Detection/IDE SETUP:
Khi chọn mục nầy sẽ xuất hiện một cửa sổ cho bạn chỉ định ổ đĩa cần dò tìm thông số (2 hay 4 ổ đĩa tuỳ theo Bios). Sau đó bạn bấm OK hay YES để Bios điền vào phần Standard dùm cho bạn. Trong Bios đời mới, Auto detect có thể đưa ra vài loại ổ đĩa. Tuỳ theo cách sử dụng ổ dĩa (normal, LBA,...) mà bạn chọn loại thích hợp.
* Power Management Setup:
Ðối với CPU 486:
Phần nầy là các chỉ định cho chương trình tiết kiệm năng lượng sẵn chứa trong các Bios đời mới. Chương trình nầy dùng được cho cả 2 loại CPU: Loại thường và loại CPU kiểu S. CPU kiểu S hay CPU có 2 ký tự cuối SL là một loại CPU được chế tạo đặc biệt, có thêm bộ phận quản lý năng lượng trong CPU. Do đó trong phần nầy có 2 loại chỉ định dành cho 2 loại CPU.
Ðối với Pentium:
Dùng chung cho mọi loại Pentium hay các chíp của các hảng khác cùng đời với Pentium.
* Power Management/Power Saving Mode:
Disable: Không sử dụng chương trình nầy.
Enable/User Define: Cho chương trình nầy có hiệu lực.
Min Saving: Dùng các giá trị thời gian dài nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm năng lượng ít nhất).
Max Saving: Dùng các giá trị thời gian ngắn nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm nhiều nhất).
* Pmi/Smi:
Nếu chọn SMI là máy đang gắn CPU kiểu S của hãng Intel. Nếu chọn Auto là máy đang gắn CPU thường.
* Doze Timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Khi đúng thời gian máy đã rảnh (không nhận được tín hiệu từ các ngắt) theo quy định, CPU tự động hạ tốc độ xuống còn 8MHz. Bạn chọn thời gian theo ý bạn (có thể từ 10 giây đến 4 giờ) hay disable nếu không muốn sử dụng mục nầy.
* Sleep Timer/Standby timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Chỉ định thời gian máy rảnh trước khi vào chế độ Sleep (ngưng hoạt động). Thời gian có thể từ 10 giây đến 4 giờ.
* Sleep Clock:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S: Stop CPU hạ tốc độ xuống còn 0MHz (ngưng hẳn). Slow CPU hạ tốc độ xuống còn 8MHz.
* HDD Standby Timer/HDD Power Down:
Chỉ định thời gian ngừng motor của ổ đĩa cứng.
* CRT Sleep:
Nếu Enable là màn hình sẽ tắt khi máy vào chế độ Sleep.
* Chỉ định:
Các chỉ định cho chương trình quản lý nguồn biết cần kiểm tra bộ phận nào khi chạy.
Chú ý: Do Bios được sản xuất để sử dụng cho nhiều loại máy khác nhau nên các bạn luôn luôn gặp phần nầy trong các Bios. Thực ra chúng chỉ có giá trị cho các máy xách tay (laptop) vì xài pin nên vấn đề tiết kiệm năng lượng được đặt lên hàng đầu. Chúng tôi khuyên các bạn đang sử dụng máy để bàn (desktop) nên vô hiệu hoá tất cả các mục trong phần nầy, để tránh các tình huống bất ngờ như: đang cài chương trình, tự nhiên máy ngưng hoạt động, đang chạy Defrag tự nhiên máy chậm cực kỳ...
4. Phần dành riêng cho Mainboard theo chuẩn giao tiếp PCI có I/O và IDE On Board (peripheral Setup):
* PCI On Board IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) 2 đầu nối ổ đĩa cứng IDE trên mainboard. Khi sử dụng Card PCI IDE rời, ta cần chọn disabled.
* PCI On Board Secondary IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) đầu nối ổ đĩa cứng IDE thứ 2 trên mainboard. Mục nầy bổ sung cho mục trên và chỉ có tác dụng với đầu nối thứ 2.
* PCI On Board Speed Mode:
Chỉ định kiểu vận chuyển dữ liệu (PIO speed mode). Có thể là Disabled, mode 1, mode 2, mode 3, mode 4, Auto. Trong đó mode 4 là nhanh nhất.
* PCI Card Present on:
Khai báo có sử dụng Card PCI IDE rời hay không và nếu có thì được cắm vào Slot nào. Các mục chọn là: Disabled, Auto, Slot 1, Slot 2, Slot 3, Slot 4.
* PCI IRQ, PCI Primary IDE IRQ, PCI Secondary IDE IRQ:
Chỉ định cách xác lập ngắt cho Card PCI IDE rời.
Chú ý: Trong mục nầy có phần xác lập thứ tự gán ngắt cho các Card bổ sung. Thí dụ: 1 = 9, 2 = 10, 3 = 11, 4 = 12 có nghĩa là Card đầu tiên cắm vào bất kỳ Slot nào sẽ được gán ngắt 9, nếu có 2 Card thì Card cắm vào Slot có số thứ tự nhỏ sẽ được gán ngắt 9, Slot có số thứ tự lớn sẽ được gán ngắt 10.v..v...
* IDE 32Bit Transfers Mode:
Xác lập nầy nhằm tăng cường tốc độ cho ổ đĩa cứng trên 528Mb, nhưng cũng có ổ đĩa không khởi động được khi enabled mục nầy dù fdisk và format vẫn bình thường.
* Host to PCI Post Write W/S, Host to PCI Burst Write, Host to DRAM Burst Write:
Các mục nầy xác lập cho PCU Bus, không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ CPU, có thể để nguyên xác lập mặc nhiên.
* PCI Bus Park, Post Write Buffer:
Khi enabled các mục nầy có thể tăng cường thêm tốc độ hệ thống.
* FDC Control:
Cho hiệu lực hay không đầu nối cáp và xác lập địa chỉ cho ổ đĩa mềm.
* Primary Seral Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
* Secondary Serial Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 2 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy. Chú ý: Nếu bạn sử dụng Card bổ sung có xác lập điạ chỉ là COM 1 hay COM 2, bạn phải disabled cổng tương ứng trong hai mục trên.
* Parallel Port:
Cho hiệu lực hay không cổng LPT 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
5. Hướng dẫn Setup Bios:
Trong các tài liệu đi kèm mainboard, đều có hướng dẫn Setup Bios. Khi mua máy hay mua mainboard, các bạn nhớ đòi các tài liệu nầy vì nó rất cần cho việc sử dụng máy.
Trong các phần Setup trên, phần Standard, Advanced có ảnh hưởng đến việc cấu hình máy. Phần Chipset ảnh hưởng đến tốc độ máy. Phần PCI ảnh hưởng đến các gán ngắt, địa chỉ cho các Slot PCI, cổng; cách vận chuyển dữ liệu cho IDE On Board.
Nếu gặp các thành phần hoàn toàn mới, trước tiên bạn hãy Set các thành phần đã biết, kiểm tra việc thay đổi của máy, cuối cùng mới Set tới các thành phần chưa biết. Chúng tôi xin nhắc lại, việc Setup Bios sai không bao giờ làm hư máy và các bạn sẽ dễ dàng Setup lại nhờ vào chính Bios. Trên mainboard luôn luôn có 1 Jumper dùng để xóa các thông tin lưu trong CMOS để bạn có thể tạo lại các thông tin nầy trong trường hợp không thể vào lại Bios Setup khi khởi động máy.
Khi tiến hành tìm hiểu Setup Bios, bạn nên theo một nguyên tắc sau: Chỉ Set từng mục một rồi khởi động máy lại, chạy các chương trình kiểm tra để xem tốc độ CPU, ổ đĩa có thay đổi gì không?. Cách làm nầy gíúp bạn phát hiện được ảnh hưởng của từng mục vào hệ thống và bạn có thể biết chắc trục trặc phát sinh do mục nào để sửa chữa. Khi xẩy ra trục trặc mà bạn không biết đối phó, bạn chỉ cần vào lại Bios Setup chọn Load Bios Default hay bấm F6 trong phần Set mà bạn muốn phục hồi sau đó khởi động máy lại là xong.
C¸ch Setup BIOS
Xem bai viet voi font ABC
Khi khởi động máy lần đầu tiên, máy tính sẽ đọc một tập hợp dữ liệu được lưu trong CMOS (một chip bộ nhớ đặc biệt luôn hoạt động nhờ 1 cục pin nhỏ), không có thông tin nầy máy tính sẽ bị tê liệt. Việc xác lập các thông tin nầy gọi là Setup Bios và bao giờ người bán cũng phải làm thủ tục Setup Bios ngay sau khi ráp máy. Nhưng bạn cũng phải biết cách Setup Bios để đề phòng trường hợp máy tự mất các thông tin lưu trong Bios vì các lý do như: Hết pin, nhiễu điện, virus...Hiện nay, người ta dùng Flash Ram để lưu thông tin Bios nên không cần phải có Pin nuôi trên mainboard. Tùy Mainboard, các mục trong Bios có thể khác nhau theo từng hãng chế tạo (Award, Ami, Pheonix...) nhưng về căn bản chúng vẫn giống nhau và trong phần nầy chủ yếu bàn về căn bản, còn các tính năng riêng bạn phải chịu khó tìm hiểu thêm nhờ vào các kiến thức căn bản nầy.
Màn hình Bios Setup đa số là màn hình chạy ở chế độ TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn hình Setup gồm nhiều cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các mục vẫn không thay đổi.
Chú ý thao tác để vào Bios Setup là: Bấm phím Del khi mới khởi động máy đối với máy Ðài Loan. Ðối với các máy Mỹ, thường là bạn phải thông qua chương trình quản lý máy riêng của từng hãng nếu muốn thay đổi các thông số của Bios.
* Bios thường: Di chuyển vệt sáng để lựa chọn mục bằng các phím mũi tên. Thay đổi giá trị của mục đang Set bằng 2 phím Page Up và Page Dn. Sau đó nhấn phím Esc để thoát khỏi mục (giá trị mới sẽ được lưu trữ). Nhấn F10 để thoát Setup Bios nếu muốn lưu các thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để lưu, N để không lưu. Nhấn Esc nếu muốn thoát mà không lưu thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để không lưu, N để trở lại màn hình Setup Bios.
* Bios Win: Màn hình Setup xuất hiện dưới dạng đồ họa gồm nhiều cửa sổ, sử dụng được mouse nếu bạn có mouse loại: PS/2 mouse, Microsoft mouse, Serial mouse, Logitect C mouse. Dùng mouse bấm kép vào cửa sổ để mở một thành phần, bấm vào mục cần thay đổi, một cửa sổ liệt kê giá trị xuất hiện, bấm vào giá trị muốn chọn rồi thoát bằng cách bấm vào ô nhỏ ở góc trên bên trái. Nếu không có mouse, dùng các phím mũi tên để di chuyển, đến mục cần thay đổi bấm Enter, xuất hiện hộp liệt kê, chọn giá trị mới, bấm Enter, cuối cùng bấm Esc.
1. Setup các thành phần căn bản (Standard CMOS Setup):
Ðây là các thành phần cơ bản mà Bios trên tất cả các loại máy PC phải biết để quản lý và điều khiển chúng.
* Ngày, giờ (Date/Day/Time):
Bạn khai báo ngày tháng năm vào mục nầy. Khai báo nầy sẽ được máy tính xem là thông tin gốc và sẽ bắt đầu tính từ đây trở đi. Các thông tin về ngày giờ được sử dụng khi các bạn tạo hay thao tác với các tập tin, thư mục. Có chương trình khi chạy cũng cần thông tin nầy, thí dụ để báo cho bạn cập nhật khi quá hạn, chấm dứt hoạt động khi đến ngày quy định...Bình thường bạn Set sai hay không Set cũng chẳng nh hưởng gì đến hoạt động của máy. Các thông tin nầy có thể sửa chữa trực tiếp ngoài Dos bằng 2 lịnh Date và Time, hay bằng Control Panel của Windows mà không cần vào Bios Setup.
Chú ý: Ðồng hồ máy tính luôn luôn chạy chậm khong vài giây/ngày, thỉnh thoảng bạn nên chỉnh lại giờ cho đúng. Nhưng nếu quá chậm là có vấn đề cần phải thay mainboard.
* ổ đĩa mềm (Drive A/B):
Khai báo loại ổ đĩa cho ổ A và ổ B, bạn căn cứ vào việc nối dây cho ổ đĩa để xác định. ổ đĩa nối với đầu nối ngoài cùng của dây nối là ổ A, ổ kia là B. ổ có kích thước lớn là 1.2M 5.25 inch, ổ nhỏ là 1.44M 3.5 inch. Nếu không có thì chọn Not Installed. Nếu bạn khai báo sai, ổ đĩa sẽ không hoạt động chớ không hư hỏng gì, bạn chỉ cần khai báo lại. Trong các mainboard sử dụng Bios đời mới, khai báo sai loại ổ dĩa 1.2Mb thành 1.4Mb hay ngược lại, ổ dĩa vẫn hoạt động bình thường nhưng kêu rất lớn lúc mới bắt đầu đọc đĩa, về lâu dài có thể hư đĩa.
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép bạn tráo đổi 2 ổ đĩa mềm mà không cần tráo đổi dây (swap floppy drive), tức là ổ A thành ổ B và ngược lại khi sử dụng. Khi tráo đổi bằng cách Set jumper trên card I/O, bạn nhớ khai báo lại trong Bios Setup (Khi tráo bằng lịnh Swap trong Bios thì không cần khai báo lại), nhưng có ứng dụng không chịu cài đặt khi Swap đĩa mềm, nhất là các ứng dụng có bảo vệ chống sao chép.
* ổ đĩa cứng (Drive C/D) loại IDE:
Phần khai báo ổ đĩa cứng rắc rối hơn, bắt buộc bạn phải khai báo chi tiết các thông số, bạn khai báo sai không những ổ cứng không hoạt động mà đôi khi còn làm hư ổ cứng nếu bạn khai báo quá dung lượng thật sự của ổ cứng và cho tiến hành FDISK, FORMAT theo dung lượng sai nầy. May mắn là các Bios sau nầy đều có phần dò tìm thông số ổ cứng IDE tự động (IDE HDD auto detection) nên các bạn khỏi mắc công nhớ khi sử dụng ổ đĩa cứng loại IDE. Chúng tôi sẽ nói về phần auto detect nầy sau. Ngoài ra, các ổ cứng sau nầy đều có ghi thông số trên nhãn dán trên mặt. Bạn cho chạy Auto detect, Bios sẽ tự động điền các thông số nầy dùm bạn. Việc khai báo ổ cứng C và D đòi hỏi phải đúng với việc Set các jumper trên 2 ổ cứng. Bạn xác lập ổ cứng không phải qua đầu nối dây mà bằng các jumper trên mạch điều khiển ổ cứng. Các ổ cứng đời mới chỉ có một jumper 3 vị trí: ổ duy nhất, ổ Master (ổ C), ổ Slave (ổ D) và có ghi rõ cách Set trên nhãn. Các ổ đĩa cứng đời cũ nhiều jumper hơn nên nếu không có tài liệu hướng dẫn là rắc rối, phải mò mẫm rất lâu.
* ổ đĩa cứng (Drive E/F) loại IDE:
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép gắn 4 ổ dĩa cứng, vì hiện nay các ổ dĩa CDROM cũng sử dụng đầu nối ổ cứng để hoạt động, gọi là CDROM Interface IDE (giao diện đĩa IDE) để đơn giản việc lắp đặt.
Chú ý: Khai báo là NONE trong Bios Setup cho ổ đĩa CD-ROM.
* Màn hình (Video) - Primary Display:
EGA/VGA: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu EGA hay VGA, Super VGA.
CGA 40/CGA 80: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu CGA 40 cột hay CGA 80 cột.
Mono: Dành cho loại màn hình sử dụng card trắng đen, kể c card VGA khi dùng màn hình trắng đen.
* Treo máy nếu phát hiện lỗi khi khởi động (Error Halt):
Tất cả lỗi (All error): Treo máy khi phát hiện bất cứ lỗi nào trong quá trình kiểm tra máy, bạn không nên chọn mục nầy vì Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên nên bạn không thể biết các lỗi khác, nếu có.
Bỏ qua lỗi của Keyboard (All, But Keyboard): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của bàn phím.
Bỏ qua lỗi đĩa (All, But Diskette): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của đĩa.
Bỏ qua lỗi đĩa và bàn phím (All, But Disk/Key): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của ổ đĩa và bàn phím.
Không treo máy khi có lỗi (No error): Tiến hành quá trình kiểm tra máy cho đến khi hoàn tất dù phát hiện bất cứ lỗi gì. Bạn nên chọn mục nầy để biết máy bị trục trặc ở bộ phận nào mà có phương hướng giải quyết.
* Keyboard:
Install: Cho kiểm tra bàn phím trong quá trình khởi động, thông báo trên màn hình nếu bàn phím có lỗi.
Not Install: Không kiểm tra bàn phím khi khởi động. Chú ý: chọn mục nầy không có nghĩa là vô hiệu hoá bàn phím vì nếu vậy làm sao điều khiển máy. Nó chỉ có tác dụng cho Bios khỏi mất công kiểm tra bàn phím nhằm rút ngắn thời gian khởi động.
2. Setup các thành phần nâng cao (Advanced Setup):
* Virut Warning:
Nếu Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy khi có hành động viết vào Boot sector hay Partition của đĩa cứng. Nếu bạn cần chạy chương trình có thao tác vào 2 nơi đó như: Fdisk, Format... bạn cần phải Disable mục nầy.
* Internal cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) Cache (L1) nội trong CPU 486 trở lên.
* External cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) cache trên mainboard, còn gọi là Cache mức 2 (L2).
* Quick Power On Self Test:
Nếu enable Bios sẽ rút ngắn và bỏ qua vài mục không quan trọng trong quá trình khởi động, để giảm thời gian khởi động tối đa.
* About 1 MB Memory Test:
Nếu Enable Bios sẽ kiểm tra tất cả bộ nhớ. Nếu Disable Bios chỉ kiểm tra 1 Mb bộ nhớ đầu tiên.
* Memory Test Tick Sound:
Cho phát âm thanh (enable) hay không (disable) trong thời gian test bộ nhớ.
* Extended Bios Ram Area:
Khai báo mục nầy nếu muốn dùng 1 Kb trên đỉnh của bộ nhớ quy ước, tức Kb bắt đầu từ địa chỉ 639K hay 0:300 của vùng Bios hệ thống trong bộ nhớ quy ước để lưu các thông tin về đĩa cứng. Xác lập có thể là 1K hay 0:300.
* Swap Floppy Drive:
Tráo đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục nầy bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như khi tráo bằng cách Set jumper trên card I/O.
* Boot Sequence:
Chọn ổ đĩa cho Bios tìm hệ điều hành khi khởi động. Có thể là C rồi đến A hay A rồi đến C hay chỉ có C. Bạn nên chọn C,A hay chỉ có C, để đề phòng trường hợp vô tình khởi động bằng đĩa mềm có Virus.
Hiện nay trên các Mainboard Pentium. Bios cho phép bạn chỉ định khởi động từ 1 trong 2 ổ mềm hay trong 4 ổ cứng IDE hay bằng ổ cứng SCSI thậm chí bằng ổ CD Rom cũng được.
* Boot Up Floppy Seek:
Nếu Enable Bios sẽ dò tìm kiểu của đĩa mềm là 80 track hay 40 track. Nếu Disable Bios sẽ bỏ qua. Chọn enable làm chậm thời gian khởi động vì Bios luôn luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng, mặc dù bạn đã chọn chỉ khởi động bằng ổ C.
* Boot Up Numlock Status:
Nếu ON là cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng) sau khi khởi động, nhóm phím bên tay phải bàn phím dùng để đánh số. Nếu OFF là cho phím Numlock tắt (đèn Numlock tối), nhóm phím bên tay phải dùng để di chuyển con trỏ.
* Boot Up System Speed:
Quy định tốc độ của CPU trong thời gian khởi động là High (cao) hay Low (thấp).
* Memory Parity Check:
Kiểm tra chẵn lẻ bộ nhớ. Chọn theo mainboard vì có loại cho phép mục nầy enable, có loại bắt bạn phải disable mới chịu chạy. Ðầu tiên bạn chọn enable, nếu máy treo bạn chọn lại là disable. Mục nầy không ảnh hưởng đến hệ thống, chỉ có tác dụng kiểm tra Ram.
* IDE HDD Block Mode:
Nếu ổ đĩa cứng của bạn hỗ trợ kiểu vận chuyển dữ liệu theo từng khối (các ổ đĩa đời mới có dung lượng cao). Bạn cho enable để tăng tốc cho ổ đĩa. Nếu ổ đĩa đời cũ bạn cho disable mục nầy.
* Pri. Master/Slave LBA (Logic Block Addressing) Mode:
Nếu 2 ổ đĩa cứng được nối vào đầu nối Primary của card I/O có dung lượng lớn hơn 528Mb, bạn cho enable mục nầy.
* Sec. IDE Ctrl Drives Install:
Mục nầy để khai báo máy bạn có ổ đĩa cứng nối vào đầu nối Secondary của card I/O. Các chỉ định có thể là Master, Mst/Slv và disable.
* Sec Master/Slave LBA Mode:
Xác lập LBA cho đầu nối thứ 2.
Chú ý: Các mục hỗ trợ cho ổ đĩa cứng có dung lượng lớn và các card I/O đời mới giúp bạn sử dụng ổ đĩa có dung lượng trên 528Mb. Trong trường hợp bạn cho enable các mục nầy rồi mới tiến hành Fdisk và Format đĩa, nếu sau đó bạn lại disable các mục nầy hay đem gắn qua máy khác cũng chọn disable, bạn sẽ không thể sử dụng được ổ dĩa cứng. Khi dùng ổ CDROM có đầu nối IDE, bạn nên gắn vào đầu nối Secondary để khỏi ảnh hưởng đến ổ dĩa cứng (gắn vào đầu nối Pri) khi cần chạy 32BitDiskAccess trong Windows.
* Typematic Rate Setting:
Nếu enable là bạn cho 2 mục dưới đây có hiệu lực. 2 mục nầy thay thế lịnh Mode của DOS, quy định tốc độ và thời gian trể của bàn phím.
* Typematic Rate (Chars/Sec):
Bạn lựa chọn số ký tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm của bạn. Nếu bạn Set thấp hơn tốc độ đánh thì máy sẽ phát tiếng Bip khi nó chạy theo không kịp.
* Typematic Delay (Msec):
Chỉ định thời gian lập lại ký tự khi bạn bấm và giữ luôn phím, tính bằng mili giây.
* Security Option:
Mục nầy dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios Setup.
Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup, mỗi khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đã quy định trước.
System hay Always: Giới hạn việc sử dụng máy. Mỗi khi mở máy, Bios luôn luôn hỏi mật khẩu, nếu không biết mật khẩu Bios sẽ không cho phép sử dụng máy.
Chú ý: Trong trường hợp bạn chưa chỉ định mật khẩu, để Disable (vô hiệu hoá) mục nầy, bạn chọn Password Setting, bạn đừng đánh gì vào các ô nhập mật khẩu mà chỉ cần bấm ENTER. Trong trường hợp bạn đã có chỉ định mật khẩu nay lại muốn bỏ đi. Bạn chọn Password Setting, bạn đánh mật khẩu cũ vào ô nhập mật khẩu cũ (Old Password) còn trong ô nhập mật khẩu mới (New Password) bạn đừng đánh gì cả mà chỉ cần bấm ENTER. Có mainboard thiết kế thêm 1 jumper để xoá riêng mật khẩu ngoài jumper để xoá toàn bộ thông tin trong CMOS. Tốt hơn hết là bạn đừng sử dụng mục nầy vì bản thân chúng tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp dở khóc dở cười do mục nầy gây ra. Lợi ít mà hại nhiều. Chỉ những máy tính công cộng mới phải sử dụng tới mục nầy thôi.
* System Bios Shadow, Video Bios Shadow:
Nếu enable là cho copy các dữ liệu về System và Video trong Bios (có tốc độ chậm) vào Ram (tốc độ nhanh) để rút ngắn thời gian khi cần truy nhập vào các dữ liệu nầy.
* Wait for
Cho hiện thông báo chờ ấn phím F1 khi có lỗi.
* Numeric Processor:
Thông báo có gắn CPU đồng xử lý (Present) trên máy hay không (absent). Mục nầy thường có cho các máy dùng CPU 286, 386, 486SX. Từ 486DX trở về sau đã có con đồng xử lý bên trong CPU nên trên các máy mới có thể không có mục nầy.
* Turbo Switch Funtion:
Cho nút Turbo có hiệu lực (enable) hay không (disable). Mục nầy thường thấy ở các Bios đời củ, trên các máy đời mới lựa chọn nầy thường bằng cách Set jumper của Mainboard. Từ Mainboard pentium trở đi không có mục nầy.
3. Setup các thành phần có liên quan đến vận hành hệ thống (Chipset Setup):
* Auto Configuration:
Nếu enable, Bios sẽ tự động xác lập các thành phần về DRAM, Cache...mỗi khi khởi động tùy theo CPU Type (kiểu CPU) và System Clock (tốc độ hệ thống). Nếu Disable là để cho bạn tự chỉ định.
* AT Clock Option:
Nếu Async (không đồng bộ) là lấy dao động chuẩn của bộ dao động thạch anh chia đôi làm tốc độ hoạt động cho AT Bus (bus 8 - 16Bit). Thường là 14.318MHz/2 tức 7.159MHz. Có Bios còn cho chọn tốc độ của mục nầy là 14.318MHz. Nếu Sync (đồng bộ) là dùng System Clock (do bạn chỉ định bằng cách Set jumper trên mainboard) làm tốc độ chuẩn.
* Synchronous AT Clock/AT Bus Clock Selector:
Chỉ định tốc độ hoạt động cho AT Bus bằng cách lấy tốc độ chuẩn (system clock) chia nhỏ để còn lại khoảng 8MHz cho phù hợp với card 16Bit. Các lựa chọn như sau:
CLKI/3 khi system clock là 20 - 25MHz.
CLKI/4 khi system clock là 33MHz.
CLKI/5 khi system clock là 40MHz.
CLKI/6 khi system clock là 50MHz.
Tốc độ nầy càng lớn (số chia càng nhỏ), máy chạy càng nhanh do tăng tốc độ vận chuyển dữ liệu. Tuy nhiên lớn đến đâu là còn tùy thuộc vào mainboard và card cắm trên các Slot (quan trọng nhất là card I/O). Các bạn phải thí nghiệm giảm số chia từng nấc và chú ý máy có khởi động hay đọc đĩa bình thường không, nếu phát sinh trục trặc thì giảm xuống 1 nấc. Thường thì bạn có thể tăng được 2 nấc, thí dụ: System clock là 40MHz, bạn chọn CLKI/3. Card ISA 8 và 16 Bit có thể chạy tốt trong khoảng từ 8MHz đến 14MHz. Nếu nhanh quá, thường card I/O gặp trục trặc trước (không đọc được đĩa cứng).
* AT Cycle Wait States/Extra AT Cycle WS:
Ðể enable hay disable việc chèn thêm 1 thời gian chờ vào thời gian chuẩn của AT Bus. Nếu system clock dưới 33MHz chọn disable. Nếu trên 33MHz chọn enable.
* Fast AT Cycle:
Khi enable sẽ rút ngắn thời gian chuẩn của AT Bus.
* DRAM Read Wait States/DRAM Brust Cycle:
Dưới 33MHz là: 3 - 2 - 2 - 2 hay 2 - 1 - 1 - 1
Từ 33 - 45MHz là: 4 - 3 - 3 - 3 hay 2 - 2 - 2 - 2
50MHz là: 5 - 4 - 4 - 4 hay 3 - 2 - 2 - 2
Chọn mục nầy ảnh hưởng lớn đến tốc độ CPU.
* DRAM/Memory Write Wait States:
Chọn 1WS khi hệ thống nhanh hay DRAM chậm (tốc độ 40MHz trở lên). Chọn 0WS khi hệ thống và DRAM có thể tương thích (33MHz trở xuống).
* Hidden Refresh Option:
Khi enable, CPU sẽ làm việc nhanh hơn do không phải chờ mỗi khi DRAM được làm tươi.
* Slow Refresh Enable:
Mục nầy nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu trên DRAM, thời gian làm tươi sẽ kéo dài hơn bình thường. Bạn chỉ được enable mục nầy khi bộ nhớ của máy hỗ trợ việc cho phép làm tươi chậm.
* L1 Cache Mode:
Lựa chọn giữa Write-Through và Write-Back cho Cache nội trong CPU 486 trở lên. Xác lập Write-Through máy sẽ chạy chậm hơn Write-Back nhưng việc lực chọn còn tuỳ thuộc vào loại CPU.
* L2 Cache Mode:
Xác lập cho cache trên mainboard.
* IDE HDD Auto Detection/IDE SETUP:
Khi chọn mục nầy sẽ xuất hiện một cửa sổ cho bạn chỉ định ổ đĩa cần dò tìm thông số (2 hay 4 ổ đĩa tuỳ theo Bios). Sau đó bạn bấm OK hay YES để Bios điền vào phần Standard dùm cho bạn. Trong Bios đời mới, Auto detect có thể đưa ra vài loại ổ đĩa. Tuỳ theo cách sử dụng ổ dĩa (normal, LBA,...) mà bạn chọn loại thích hợp.
* Power Management Setup:
Ðối với CPU 486:
Phần nầy là các chỉ định cho chương trình tiết kiệm năng lượng sẵn chứa trong các Bios đời mới. Chương trình nầy dùng được cho cả 2 loại CPU: Loại thường và loại CPU kiểu S. CPU kiểu S hay CPU có 2 ký tự cuối SL là một loại CPU được chế tạo đặc biệt, có thêm bộ phận quản lý năng lượng trong CPU. Do đó trong phần nầy có 2 loại chỉ định dành cho 2 loại CPU.
Ðối với Pentium:
Dùng chung cho mọi loại Pentium hay các chíp của các hảng khác cùng đời với Pentium.
* Power Management/Power Saving Mode:
Disable: Không sử dụng chương trình nầy.
Enable/User Define: Cho chương trình nầy có hiệu lực.
Min Saving: Dùng các giá trị thời gian dài nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm năng lượng ít nhất).
Max Saving: Dùng các giá trị thời gian ngắn nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm nhiều nhất).
* Pmi/Smi:
Nếu chọn SMI là máy đang gắn CPU kiểu S của hãng Intel. Nếu chọn Auto là máy đang gắn CPU thường.
* Doze Timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Khi đúng thời gian máy đã rảnh (không nhận được tín hiệu từ các ngắt) theo quy định, CPU tự động hạ tốc độ xuống còn 8MHz. Bạn chọn thời gian theo ý bạn (có thể từ 10 giây đến 4 giờ) hay disable nếu không muốn sử dụng mục nầy.
* Sleep Timer/Standby timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Chỉ định thời gian máy rảnh trước khi vào chế độ Sleep (ngưng hoạt động). Thời gian có thể từ 10 giây đến 4 giờ.
* Sleep Clock:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S: Stop CPU hạ tốc độ xuống còn 0MHz (ngưng hẳn). Slow CPU hạ tốc độ xuống còn 8MHz.
* HDD Standby Timer/HDD Power Down:
Chỉ định thời gian ngừng motor của ổ đĩa cứng.
* CRT Sleep:
Nếu Enable là màn hình sẽ tắt khi máy vào chế độ Sleep.
* Chỉ định:
Các chỉ định cho chương trình quản lý nguồn biết cần kiểm tra bộ phận nào khi chạy.
Chú ý: Do Bios được sản xuất để sử dụng cho nhiều loại máy khác nhau nên các bạn luôn luôn gặp phần nầy trong các Bios. Thực ra chúng chỉ có giá trị cho các máy xách tay (laptop) vì xài pin nên vấn đề tiết kiệm năng lượng được đặt lên hàng đầu. Chúng tôi khuyên các bạn đang sử dụng máy để bàn (desktop) nên vô hiệu hoá tất cả các mục trong phần nầy, để tránh các tình huống bất ngờ như: đang cài chương trình, tự nhiên máy ngưng hoạt động, đang chạy Defrag tự nhiên máy chậm cực kỳ...
4. Phần dành riêng cho Mainboard theo chuẩn giao tiếp PCI có I/O và IDE On Board (peripheral Setup):
* PCI On Board IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) 2 đầu nối ổ đĩa cứng IDE trên mainboard. Khi sử dụng Card PCI IDE rời, ta cần chọn disabled.
* PCI On Board Secondary IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) đầu nối ổ đĩa cứng IDE thứ 2 trên mainboard. Mục nầy bổ sung cho mục trên và chỉ có tác dụng với đầu nối thứ 2.
* PCI On Board Speed Mode:
Chỉ định kiểu vận chuyển dữ liệu (PIO speed mode). Có thể là Disabled, mode 1, mode 2, mode 3, mode 4, Auto. Trong đó mode 4 là nhanh nhất.
* PCI Card Present on:
Khai báo có sử dụng Card PCI IDE rời hay không và nếu có thì được cắm vào Slot nào. Các mục chọn là: Disabled, Auto, Slot 1, Slot 2, Slot 3, Slot 4.
* PCI IRQ, PCI Primary IDE IRQ, PCI Secondary IDE IRQ:
Chỉ định cách xác lập ngắt cho Card PCI IDE rời.
Chú ý: Trong mục nầy có phần xác lập thứ tự gán ngắt cho các Card bổ sung. Thí dụ: 1 = 9, 2 = 10, 3 = 11, 4 = 12 có nghĩa là Card đầu tiên cắm vào bất kỳ Slot nào sẽ được gán ngắt 9, nếu có 2 Card thì Card cắm vào Slot có số thứ tự nhỏ sẽ được gán ngắt 9, Slot có số thứ tự lớn sẽ được gán ngắt 10.v..v...
* IDE 32Bit Transfers Mode:
Xác lập nầy nhằm tăng cường tốc độ cho ổ đĩa cứng trên 528Mb, nhưng cũng có ổ đĩa không khởi động được khi enabled mục nầy dù fdisk và format vẫn bình thường.
* Host to PCI Post Write W/S, Host to PCI Burst Write, Host to DRAM Burst Write:
Các mục nầy xác lập cho PCU Bus, không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ CPU, có thể để nguyên xác lập mặc nhiên.
* PCI Bus Park, Post Write Buffer:
Khi enabled các mục nầy có thể tăng cường thêm tốc độ hệ thống.
* FDC Control:
Cho hiệu lực hay không đầu nối cáp và xác lập địa chỉ cho ổ đĩa mềm.
* Primary Seral Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
* Secondary Serial Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 2 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy. Chú ý: Nếu bạn sử dụng Card bổ sung có xác lập điạ chỉ là COM 1 hay COM 2, bạn phải disabled cổng tương ứng trong hai mục trên.
* Parallel Port:
Cho hiệu lực hay không cổng LPT 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
5. Hướng dẫn Setup Bios:
Trong các tài liệu đi kèm mainboard, đều có hướng dẫn Setup Bios. Khi mua máy hay mua mainboard, các bạn nhớ đòi các tài liệu nầy vì nó rất cần cho việc sử dụng máy.
Trong các phần Setup trên, phần Standard, Advanced có ảnh hưởng đến việc cấu hình máy. Phần Chipset ảnh hưởng đến tốc độ máy. Phần PCI ảnh hưởng đến các gán ngắt, địa chỉ cho các Slot PCI, cổng; cách vận chuyển dữ liệu cho IDE On Board.
Nếu gặp các thành phần hoàn toàn mới, trước tiên bạn hãy Set các thành phần đã biết, kiểm tra việc thay đổi của máy, cuối cùng mới Set tới các thành phần chưa biết. Chúng tôi xin nhắc lại, việc Setup Bios sai không bao giờ làm hư máy và các bạn sẽ dễ dàng Setup lại nhờ vào chính Bios. Trên mainboard luôn luôn có 1 Jumper dùng để xóa các thông tin lưu trong CMOS để bạn có thể tạo lại các thông tin nầy trong trường hợp không thể vào lại Bios Setup khi khởi động máy.
Khi tiến hành tìm hiểu Setup Bios, bạn nên theo một nguyên tắc sau: Chỉ Set từng mục một rồi khởi động máy lại, chạy các chương trình kiểm tra để xem tốc độ CPU, ổ đĩa có thay đổi gì không?. Cách làm nầy gíúp bạn phát hiện được ảnh hưởng của từng mục vào hệ thống và bạn có thể biết chắc trục trặc phát sinh do mục nào để sửa chữa. Khi xẩy ra trục trặc mà bạn không biết đối phó, bạn chỉ cần vào lại Bios Setup chọn Load Bios Default hay bấm F6 trong phần Set mà bạn muốn phục hồi sau đó khởi động máy lại là xong.
Chuẩn đoán và khắc phục các tranh chấp hệ thống
Chuẩn đoán và khắc phục các tranh chấp hệ thống
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 1/99
Cần tìm cho ra nguồn gốc của những trục trặc phần cứng hoặc các lỗi General Protection Fault là công việc vừa mất công vừa bực mình.
Nếu may mắn, việc phục hồi bản sao lưu của Registry sẽ giúp bạn rất hiệu quả (tham khảo mục "Thủ thuật phần cứng", PC World VN 12/98, trang 106). Nhưng nếu việc phục hồi này thất bại, thì nguyên nhân của các trục trặc có thể là một trong hàng chục driver hoặc tập tin cấu hình, hoặc kết hợp cả hai.
Việc tìm kiếm thủ phạm thường chỉ là quá trình loại trừ tẻ nhạt. Đầu tiên bạn vô hiệu hóa một tập tin nghi ngờ, rồi khởi động lại PC xem đã hết trục trặc chưa. Nếu chưa lại tiếp tục đối với tập tin khác.
Rất may, System Configuration Utility của Windows 98 sẽ làm cho công cuộc tìm hỏng hóc trở nên khá dễ dàng, mặc dù không rõ ràng và đơn giản đến mức ai cũng làm được. Tuy nhiên, trước hết phải có vài lời về những gì cần làm trong Windows 3.x và 95.
Với Windows 3.x, vô hiệu hóa một driver có liên quan đến việc mở những tập tin cấu hình thích hợp - thường là autoexe.bat và config.sys trong thư mục gốc, hoặc system.ini và win.ini trong folder Windows - và sau đó, trong một trình biên tập văn bản, tìm dòng lệnh khởi động driver và loại bỏ dòng đó bằng cách thêm một dấu chấm phẩy (;) vào chỗ bắt đầu của dòng win.ini, hoặc thêm rem vào autoexec.bat và config.sys.
Mặc dù Microsoft đã có những nỗ lực nhằm đơn giản hóa tình trạng này trong các phiên bản sau của họ, nhưng cả Win95 lẫn Win98 vẫn đòi hỏi phải thay đổi ở mức độ phức tạp như vậy. Trong Windows 95, Microsoft đã dời dữ liệu cấu hình nhiều hết mức vào một vị trí trung tâm - Registry - đồng thời cung cấp Device Manager để làm công cụ duyệt xem trạng thái của các thiết bị đã được lắp đặt. Tuy nhiên, Registry không liệt kê hết mọi driver. Để giữ tính tương thích với một số phần cứng và phần mềm 16 bit cũ, Microsoft duy trì bốn tập tin cấu hình nói trên như một bộ phận tích hợp của Windows 98. Và sau khi đã kiểm tra Device Manager để tìm các tranh chấp phần cứng rõ ràng, những tập tin này vẫn là nơi tốt nhất để bắt đầu việc xem xét khi PC của bạn có một trục trặc nghiêm trọng.
Công cụ tìm hỏng hóc của Windows 98
Tiện ích mới System Configuration Utility của Windows 98 (hình 1) cung cấp giao diện đơn giản cho phép bạn dễ dàng kiểm soát tập tin cấu hình nào - và những dòng nào trong từng tập tin - sẽ chạy khi hệ thống khởi động. Nó cũng cung cấp các công cụ tiên tiến để chẩn đoán một số trục trặc phổ biến, đồng thời cho phép bạn có thể không chọn - và do đó loại trừ nguồn gốc trục trặc - bất kỳ phần mềm nào tự động chạy khi khởi động.
Hình 1: Cô lập các trục trặc hệ thống bằng cách xác định những tập tin khởi động nào sẽ phải được xử lý.
Kích hoạt System Configuration Utility bằng cách gõ msconfig vào hộp Start.Run, hoặc bằng cách chọn nó trong trình đơn Tools của tiện ích System Configuration Utility (Start.Program.Accessories.System Tools). Và vì trình đơn View của tiện ích này sẽ cho phép truy cập nhanh nhiều công cụ tìm hư hỏng khác như Control Panel, Device Manager, và Display Settings, nên có thể bạn phải tạo một shortcut để dễ phát động hơn.
Tìm msconfig.exe trong folder Windows\System, bảo đảm cửa sổ folder này không bị phóng đại, rồi kéo biểu tượng tập tin vào desktop. Từ trình đơn vừa xuất hiện, chọn Create Shortcut(s) Here.
Tìm kiếm trục trặc
Tiến hành tìm hỏng hóc đối với PC bằng System Configuration Utility theo quá trình ba bước. Hai bước đầu sẽ loại trừ bốn tập tin cấu hình như là những thủ phạm đáng ngờ nhất, bước cuối kiểm tra phần mềm khởi động và một số vấn đề phần cứng đặc biệt.
Tuy nhiên, trước khi bắt tay vào việc tìm hiểu nguyên nhân trục trặc, phải không để những trục trặc xảy ra cho mình: tiến hành sao lưu các tập tin cấu hình. Nhấp chuột lên nút Create Backup trên nhãn General (hình 1), các tập tin autoexec.bat, config.sys, system.ini, win.ini sẽ được tự động chép vào thư mục gốc và lấy phần mở rộng là .pss. Về sau, nếu việc thay đổi lại làm xuất hiện nhiều trục trặc hơn, bạn có thể phục hồi các tập tin này bằng cách nhấp chuột lên nút Restore Backup.
Đồng thời cũng phải kiểm tra từng thuộc tính của tập tin. Nhấp nút phải chuột lên tên tập tin đó trong Explorer, chọn Properties, và nếu tập tin được đánh dấu "read only", bạn loại bỏ hạn chế này bằng cách bỏ chọn ô "Read-only".
Tiếp theo, trên nhãn General của System Configuration Utility, bạn thay đổi cài đặt Startup Selection trong Normal bằng Selective Startup. Mỗi tập tin cấu hình sẽ được liệt kê bên cạnh một hộp kiểm tra (check box). Một ô được chọn (check) có nghĩa Windows 98 sẽ nạp tập tin này, còn ô không được chọn có nghĩa nó sẽ bị bỏ qua. Nếu có một ô chuyển sang màu xám khi không chọn thì tập tin đó không tồn tại trên máy bạn. Ví dụ, winstart.bat - một tập tin mạng chế độ thực - sẽ có màu xám trên hầu hết các máy. Chú ý: nếu không có tập tin autoexec.bat hoặc config.sys, thì cũng đừng lo lắng. Windows 98 không cần có chúng vẫn chạy chính xác, nhưng phải có hai tập tin system.ini và win.ini.
Bắt đầu việc kiểm tra bằng cách bỏ chọn (uncheck) ô ứng với config.sys, nhấp OK ở bên dưới hộp thoại và chọn Yes khi được nhắc khởi động lại hệ thống. Nếu hết trục trặc thì config.sys là thủ phạm. Nếu không, thì tiếp tục quá trình loại trừ này đối với từng cái trong ba tập tin còn lại.
Nếu bạn đã cách ly được tập tin cấu hình gây ra trục trặc thì bước tiếp theo là tìm xem dòng lệnh nào trong tập tin đó bị lỗi. Chuyển đến nhãn System Configuration Utility đối với tập tin đó. Bên dưới nhãn bạn sẽ nhìn thấy các dòng hoặc nhóm dòng lệnh của tập tin được liệt kê, mỗi dòng kèm theo một hộp kiểm tra bên cạnh (hình 2). Một ô được chọn nghĩa là dòng lệnh đó sẽ chạy khi tập tin này được xử lý; ô không được chọn thì ngược lại.
Hình 2: Vô hiệu hóa bốn nhóm dòng lệnh cùng một lúc để tăng tốc quá trình tìm hư hỏng.
Khắc phục trục trặc
Bắt đầu với tất cả các dòng lệnh không được chọn, và liên tục khởi động lại máy sau mỗi lần bổ sung thêm một dòng được chọn. Nếu tập tin này có nhiều dòng, bạn có thể tiết kiệm chút ít thời gian bằng cách chọn bốn dòng hoặc nhiều nhóm dòng cùng một lúc rồi đợi xem trục trặc có xuất hiện lại hay không. Nếu làm như vậy mà gây hỏng Windows, thì ở lần khởi động sau máy sẽ đưa bạn vào Safe Mode, trong trường hợp này bạn có thể khắc phục bằng cách phục hồi cài đặt vừa được cải đổi trong System Configuration Utility để trở lại dạng "khoẻ mạnh" trước kia của nó.
Nếu không có tập tin cấu hình nào có vẻ là nguyên nhân gây ra sự đau khổ của bạn, thì khởi động lại hệ thống mà không có phần mềm nào tự động chạy lúc khởi động, và chú ý xem điều đó có loại trừ được trục trặc hay không. Tiến hành kiểu khởi động lại này bằng cách bỏ chọn hộp kiểm tra cuối cùng, được đánh dấu là AàLoad Startup group items' trên nhãn General. Nhưng trước khi khởi động lại, bạn mở nhãn Startup và đảm bảo tất cả các chương trình đều đã được chọn; các chương trình được nạp qua Aàrun=' trong win.ini phải được bỏ chọn bằng tay.
Và cuối cùng nếu những thao tác trên vẫn không mang lại kết quả, bạn nhấp chuột lên nút Advanced ở bên dưới nhãn General. Ơở đây bạn sẽ tìm thấy một số cách cài đặt để tìm trục trặc như sau:
* VGA 640x480x16. Việc chọn cài đặt này sẽ thay thế driver hiển thị đang dùng bằng driver VGA ban đầu. Các trục trặc do driver đồ họa gây ra là loại rất phổ biến, và có thể dẫn đến mọi rắc rối, từ hình ảnh trên màn hình bị kém cho đến hiện tượng tự khởi động lại hệ thống. Nếu với thay đổi này mà giảm bớt được trục trặc, hãy tải xuống một driver đã cập nhật từ Web site của hãng chế tạo card đồ họa bạn đang dùng.
* Hạn chế bộ nhớ. Các chip nhớ bị hỏng có thể gây ra nhiều lỗi. Việc hạn chế bộ nhớ ở một trị số thấp - 16MB chẳng hạn - sẽ ngăn Windows 98 truy cập vào một lượng RAM vượt quá trị số đó. Nếu mẹo này làm cho trục trặc biến mất thì có thể phải thay chip nhớ.
Nếu bạn có nhiều SIMM hoặc DIMM, phải tháo tất cả chúng ra rồi cắm vào lần lượt từng cái đồng thời khởi động lại máy cho đến khi cô lập được chip hỏng, và thay module nhớ bị hỏng đó bằng một cái mới. Thực hiện xong việc cài đặt này, bạn đừng quên bỏ chọn nó để Windows 98 có thể truy cập được vào toàn bộ RAM của hệ thống như cũ.
* EMM Exclude A000-FFFF. Việc chọn cài đặt này sẽ ngăn ngừa các tranh chấp hệ thống giữa bộ thích ứng và các ROM hệ thống với các chương trình đang chạy trong bộ nhớ mở rộng (expanded memory) như game chẳng hạn. Nếu không ham chơi game, bạn chẳng phải lo lắng gì về điều này, vì chỉ có những ứng dụng DOS cũ kỹ mới dùng kiểu bộ nhớ mở rộng. Nếu chọn cài đặt này khắc phục được trục trặc, bạn có thể để nguyên cài đặt đã được chọn đó (nó sẽ tách bộ nhớ ra khỏi các ứng dụng không phải Windows), hoặc cố đồng nhất dải (hoặc các dải) bộ nhớ đang tranh chấp bằng cách bỏ chọn ô này rồi bổ sung thêm dòng EMMExclude = C400 - C7FF E000 - EFFF vào đoạn [386 Enhanced] của system.ini. Bạn có thể thường xuyên thấy có tranh chấp xảy ra ở đâu đó trong phạm vi hai dải này, nhưng nếu có thể đồng nhất tất cả ROM và các địa chỉ shadow của mình thì bạn sẽ biết rõ những dải đặc trưng nào để loại trừ.
* Vô hiệu hóa khả năng đóng nhanh. Có một số ứng dụng không thích chức năng đóng nhanh của Win 98 và sẽ làm cho hệ thống bị treo. Cài đặt này có trang bị một thủ tục Windows 95 chậm hơn.
Minh Xuân US PC World 1/99
Không có máy in? Chuyện vặt!
Bạn có thể gửi tài liệu cho một máy in ảo, và sau đó in chúng ra khi bạn truy nhập vào một máy in nào đó. Mở folder Printer trong Control Panel và chọn Work Office trong trình đơn File. Khi đã sẵn sàng ở chế độ spooling (Properties.Details.Spool Settings) đồng thời cũng cài đặt xong các driver của máy in, thì mọi tài liệu mà bạn muốn in ra đều được lưu lại trên đĩa cứng.
Khi trở lại với máy in riêng trong văn phòng, bạn vào trình đơn file và bỏ chọn Work Office. Windows 98 sẽ nhận biết sự ghép nối này và bắt đầu tác vụ in.
LeHoanPc 1996 - 2001
Mirror 1: http://www.tlnet.com.vn/weblh/
Mirror 2: http://www.hcmpt.vnn.vn/co/weblh/
Mirror 3: http://www.lehoan.andi.vn/
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 1/99
Cần tìm cho ra nguồn gốc của những trục trặc phần cứng hoặc các lỗi General Protection Fault là công việc vừa mất công vừa bực mình.
Nếu may mắn, việc phục hồi bản sao lưu của Registry sẽ giúp bạn rất hiệu quả (tham khảo mục "Thủ thuật phần cứng", PC World VN 12/98, trang 106). Nhưng nếu việc phục hồi này thất bại, thì nguyên nhân của các trục trặc có thể là một trong hàng chục driver hoặc tập tin cấu hình, hoặc kết hợp cả hai.
Việc tìm kiếm thủ phạm thường chỉ là quá trình loại trừ tẻ nhạt. Đầu tiên bạn vô hiệu hóa một tập tin nghi ngờ, rồi khởi động lại PC xem đã hết trục trặc chưa. Nếu chưa lại tiếp tục đối với tập tin khác.
Rất may, System Configuration Utility của Windows 98 sẽ làm cho công cuộc tìm hỏng hóc trở nên khá dễ dàng, mặc dù không rõ ràng và đơn giản đến mức ai cũng làm được. Tuy nhiên, trước hết phải có vài lời về những gì cần làm trong Windows 3.x và 95.
Với Windows 3.x, vô hiệu hóa một driver có liên quan đến việc mở những tập tin cấu hình thích hợp - thường là autoexe.bat và config.sys trong thư mục gốc, hoặc system.ini và win.ini trong folder Windows - và sau đó, trong một trình biên tập văn bản, tìm dòng lệnh khởi động driver và loại bỏ dòng đó bằng cách thêm một dấu chấm phẩy (;) vào chỗ bắt đầu của dòng win.ini, hoặc thêm rem vào autoexec.bat và config.sys.
Mặc dù Microsoft đã có những nỗ lực nhằm đơn giản hóa tình trạng này trong các phiên bản sau của họ, nhưng cả Win95 lẫn Win98 vẫn đòi hỏi phải thay đổi ở mức độ phức tạp như vậy. Trong Windows 95, Microsoft đã dời dữ liệu cấu hình nhiều hết mức vào một vị trí trung tâm - Registry - đồng thời cung cấp Device Manager để làm công cụ duyệt xem trạng thái của các thiết bị đã được lắp đặt. Tuy nhiên, Registry không liệt kê hết mọi driver. Để giữ tính tương thích với một số phần cứng và phần mềm 16 bit cũ, Microsoft duy trì bốn tập tin cấu hình nói trên như một bộ phận tích hợp của Windows 98. Và sau khi đã kiểm tra Device Manager để tìm các tranh chấp phần cứng rõ ràng, những tập tin này vẫn là nơi tốt nhất để bắt đầu việc xem xét khi PC của bạn có một trục trặc nghiêm trọng.
Công cụ tìm hỏng hóc của Windows 98
Tiện ích mới System Configuration Utility của Windows 98 (hình 1) cung cấp giao diện đơn giản cho phép bạn dễ dàng kiểm soát tập tin cấu hình nào - và những dòng nào trong từng tập tin - sẽ chạy khi hệ thống khởi động. Nó cũng cung cấp các công cụ tiên tiến để chẩn đoán một số trục trặc phổ biến, đồng thời cho phép bạn có thể không chọn - và do đó loại trừ nguồn gốc trục trặc - bất kỳ phần mềm nào tự động chạy khi khởi động.
Hình 1: Cô lập các trục trặc hệ thống bằng cách xác định những tập tin khởi động nào sẽ phải được xử lý.
Kích hoạt System Configuration Utility bằng cách gõ msconfig vào hộp Start.Run, hoặc bằng cách chọn nó trong trình đơn Tools của tiện ích System Configuration Utility (Start.Program.Accessories.System Tools). Và vì trình đơn View của tiện ích này sẽ cho phép truy cập nhanh nhiều công cụ tìm hư hỏng khác như Control Panel, Device Manager, và Display Settings, nên có thể bạn phải tạo một shortcut để dễ phát động hơn.
Tìm msconfig.exe trong folder Windows\System, bảo đảm cửa sổ folder này không bị phóng đại, rồi kéo biểu tượng tập tin vào desktop. Từ trình đơn vừa xuất hiện, chọn Create Shortcut(s) Here.
Tìm kiếm trục trặc
Tiến hành tìm hỏng hóc đối với PC bằng System Configuration Utility theo quá trình ba bước. Hai bước đầu sẽ loại trừ bốn tập tin cấu hình như là những thủ phạm đáng ngờ nhất, bước cuối kiểm tra phần mềm khởi động và một số vấn đề phần cứng đặc biệt.
Tuy nhiên, trước khi bắt tay vào việc tìm hiểu nguyên nhân trục trặc, phải không để những trục trặc xảy ra cho mình: tiến hành sao lưu các tập tin cấu hình. Nhấp chuột lên nút Create Backup trên nhãn General (hình 1), các tập tin autoexec.bat, config.sys, system.ini, win.ini sẽ được tự động chép vào thư mục gốc và lấy phần mở rộng là .pss. Về sau, nếu việc thay đổi lại làm xuất hiện nhiều trục trặc hơn, bạn có thể phục hồi các tập tin này bằng cách nhấp chuột lên nút Restore Backup.
Đồng thời cũng phải kiểm tra từng thuộc tính của tập tin. Nhấp nút phải chuột lên tên tập tin đó trong Explorer, chọn Properties, và nếu tập tin được đánh dấu "read only", bạn loại bỏ hạn chế này bằng cách bỏ chọn ô "Read-only".
Tiếp theo, trên nhãn General của System Configuration Utility, bạn thay đổi cài đặt Startup Selection trong Normal bằng Selective Startup. Mỗi tập tin cấu hình sẽ được liệt kê bên cạnh một hộp kiểm tra (check box). Một ô được chọn (check) có nghĩa Windows 98 sẽ nạp tập tin này, còn ô không được chọn có nghĩa nó sẽ bị bỏ qua. Nếu có một ô chuyển sang màu xám khi không chọn thì tập tin đó không tồn tại trên máy bạn. Ví dụ, winstart.bat - một tập tin mạng chế độ thực - sẽ có màu xám trên hầu hết các máy. Chú ý: nếu không có tập tin autoexec.bat hoặc config.sys, thì cũng đừng lo lắng. Windows 98 không cần có chúng vẫn chạy chính xác, nhưng phải có hai tập tin system.ini và win.ini.
Bắt đầu việc kiểm tra bằng cách bỏ chọn (uncheck) ô ứng với config.sys, nhấp OK ở bên dưới hộp thoại và chọn Yes khi được nhắc khởi động lại hệ thống. Nếu hết trục trặc thì config.sys là thủ phạm. Nếu không, thì tiếp tục quá trình loại trừ này đối với từng cái trong ba tập tin còn lại.
Nếu bạn đã cách ly được tập tin cấu hình gây ra trục trặc thì bước tiếp theo là tìm xem dòng lệnh nào trong tập tin đó bị lỗi. Chuyển đến nhãn System Configuration Utility đối với tập tin đó. Bên dưới nhãn bạn sẽ nhìn thấy các dòng hoặc nhóm dòng lệnh của tập tin được liệt kê, mỗi dòng kèm theo một hộp kiểm tra bên cạnh (hình 2). Một ô được chọn nghĩa là dòng lệnh đó sẽ chạy khi tập tin này được xử lý; ô không được chọn thì ngược lại.
Hình 2: Vô hiệu hóa bốn nhóm dòng lệnh cùng một lúc để tăng tốc quá trình tìm hư hỏng.
Khắc phục trục trặc
Bắt đầu với tất cả các dòng lệnh không được chọn, và liên tục khởi động lại máy sau mỗi lần bổ sung thêm một dòng được chọn. Nếu tập tin này có nhiều dòng, bạn có thể tiết kiệm chút ít thời gian bằng cách chọn bốn dòng hoặc nhiều nhóm dòng cùng một lúc rồi đợi xem trục trặc có xuất hiện lại hay không. Nếu làm như vậy mà gây hỏng Windows, thì ở lần khởi động sau máy sẽ đưa bạn vào Safe Mode, trong trường hợp này bạn có thể khắc phục bằng cách phục hồi cài đặt vừa được cải đổi trong System Configuration Utility để trở lại dạng "khoẻ mạnh" trước kia của nó.
Nếu không có tập tin cấu hình nào có vẻ là nguyên nhân gây ra sự đau khổ của bạn, thì khởi động lại hệ thống mà không có phần mềm nào tự động chạy lúc khởi động, và chú ý xem điều đó có loại trừ được trục trặc hay không. Tiến hành kiểu khởi động lại này bằng cách bỏ chọn hộp kiểm tra cuối cùng, được đánh dấu là AàLoad Startup group items' trên nhãn General. Nhưng trước khi khởi động lại, bạn mở nhãn Startup và đảm bảo tất cả các chương trình đều đã được chọn; các chương trình được nạp qua Aàrun=' trong win.ini phải được bỏ chọn bằng tay.
Và cuối cùng nếu những thao tác trên vẫn không mang lại kết quả, bạn nhấp chuột lên nút Advanced ở bên dưới nhãn General. Ơở đây bạn sẽ tìm thấy một số cách cài đặt để tìm trục trặc như sau:
* VGA 640x480x16. Việc chọn cài đặt này sẽ thay thế driver hiển thị đang dùng bằng driver VGA ban đầu. Các trục trặc do driver đồ họa gây ra là loại rất phổ biến, và có thể dẫn đến mọi rắc rối, từ hình ảnh trên màn hình bị kém cho đến hiện tượng tự khởi động lại hệ thống. Nếu với thay đổi này mà giảm bớt được trục trặc, hãy tải xuống một driver đã cập nhật từ Web site của hãng chế tạo card đồ họa bạn đang dùng.
* Hạn chế bộ nhớ. Các chip nhớ bị hỏng có thể gây ra nhiều lỗi. Việc hạn chế bộ nhớ ở một trị số thấp - 16MB chẳng hạn - sẽ ngăn Windows 98 truy cập vào một lượng RAM vượt quá trị số đó. Nếu mẹo này làm cho trục trặc biến mất thì có thể phải thay chip nhớ.
Nếu bạn có nhiều SIMM hoặc DIMM, phải tháo tất cả chúng ra rồi cắm vào lần lượt từng cái đồng thời khởi động lại máy cho đến khi cô lập được chip hỏng, và thay module nhớ bị hỏng đó bằng một cái mới. Thực hiện xong việc cài đặt này, bạn đừng quên bỏ chọn nó để Windows 98 có thể truy cập được vào toàn bộ RAM của hệ thống như cũ.
* EMM Exclude A000-FFFF. Việc chọn cài đặt này sẽ ngăn ngừa các tranh chấp hệ thống giữa bộ thích ứng và các ROM hệ thống với các chương trình đang chạy trong bộ nhớ mở rộng (expanded memory) như game chẳng hạn. Nếu không ham chơi game, bạn chẳng phải lo lắng gì về điều này, vì chỉ có những ứng dụng DOS cũ kỹ mới dùng kiểu bộ nhớ mở rộng. Nếu chọn cài đặt này khắc phục được trục trặc, bạn có thể để nguyên cài đặt đã được chọn đó (nó sẽ tách bộ nhớ ra khỏi các ứng dụng không phải Windows), hoặc cố đồng nhất dải (hoặc các dải) bộ nhớ đang tranh chấp bằng cách bỏ chọn ô này rồi bổ sung thêm dòng EMMExclude = C400 - C7FF E000 - EFFF vào đoạn [386 Enhanced] của system.ini. Bạn có thể thường xuyên thấy có tranh chấp xảy ra ở đâu đó trong phạm vi hai dải này, nhưng nếu có thể đồng nhất tất cả ROM và các địa chỉ shadow của mình thì bạn sẽ biết rõ những dải đặc trưng nào để loại trừ.
* Vô hiệu hóa khả năng đóng nhanh. Có một số ứng dụng không thích chức năng đóng nhanh của Win 98 và sẽ làm cho hệ thống bị treo. Cài đặt này có trang bị một thủ tục Windows 95 chậm hơn.
Minh Xuân US PC World 1/99
Không có máy in? Chuyện vặt!
Bạn có thể gửi tài liệu cho một máy in ảo, và sau đó in chúng ra khi bạn truy nhập vào một máy in nào đó. Mở folder Printer trong Control Panel và chọn Work Office trong trình đơn File. Khi đã sẵn sàng ở chế độ spooling (Properties.Details.Spool Settings) đồng thời cũng cài đặt xong các driver của máy in, thì mọi tài liệu mà bạn muốn in ra đều được lưu lại trên đĩa cứng.
Khi trở lại với máy in riêng trong văn phòng, bạn vào trình đơn file và bỏ chọn Work Office. Windows 98 sẽ nhận biết sự ghép nối này và bắt đầu tác vụ in.
LeHoanPc 1996 - 2001
Mirror 1: http://www.tlnet.com.vn/weblh/
Mirror 2: http://www.hcmpt.vnn.vn/co/weblh/
Mirror 3: http://www.lehoan.andi.vn/
Cần biết về card màn hình và monitor
Cần biết về card màn hình và monitor
Xem bai viet voi font ABC
Trên các máy 386, tốc độ card màn hình không quan trọng lắm nên người dùng không chú ý mà chỉ quan tâm đến độ phân giải.
Khi bạn sử dụng máy từ 486 trở đi thì monitor và card màn hình có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất toàn hệ thống, vì nếu chúng chạy chậm sẽ gây ra hiện tượng thắt cổ chai làm giảm tốc độ toàn bộ hệ thống.
1/ Card màn hình:
a) Dành cho máy 386:
Card màn hình của 386 cũng có các đặc điểm gíống như 486, nó chỉ khác là chạy 16Bit nên tốc độ chậm hơn và cũng có card tăng tốc 16Bit.
b) Dành cho máy 486:
Nếu đã mua máy 486 để tận dụng tốc độ cao thì không có lý do gì để giữ lại card màn hình 16Bit chậm chạp, Do tốc độ chậm nó sẽ kềm hãm tốc độ xử lý của CPU và khi bị thúc ép quá nó sẽ cập nhật màn hình lung tung hay gây ra nhiều hiện tượng kỳ quái khác mà bạn không thể ngờ là do card màn hình chậm chạp gây ra.
Tối thiểu bạn nên trang bị card màn hình 32Bit (VL Bus) thường với 1Mb ram, tối ưu là card màn hình tăng tốc 32Bit (VL Bus Accelerator) với 1Mb ram. Khi chạy các chương trình đồ hoạ bạn mới thấy hiệu quả của nó thật xứng đáng với đồng tiền bạn bỏ ra. Card tăng tốc khác card thường ở chỗ nó có thêm 1 con CPU chuyên dùng để tính toán việc cập nhật màn hình (tốc độ tính toán của nó còn nhanh hơn tốc độ tính của CPU trên máy do nó được thiết kế chỉ để làm việc nầy. Khi làm việc, CPU trên máy chỉ cần ra những lịnh tổng quát, còn việc tính toán cập nhật từng điểm trên màn hình do con CPU nầy đảm nhiệm), tốc độ cập nhật vừa nhanh lại vừa giải phóng thời gian cho CPU chính làm chuyện khác.
Ðộ phân giải cuả card 32Bit thường với 1Mb ram như sau:
- 640x480 tối đa 16 triệu màu (24 bit màu).
- 800x600 tối đa 65.536 màu (16 bit màu).
- 1024x768 tối đa 256 màu (8 bit màu).
Ðộ phân giải cuả card 32Bit tăng tốc với 1Mb ram như sau:
- 640x480 tối đa 16,7 triệu màu (24 bit màu).
- 800x600 tối đa 256 màu (8 bit màu).
- 1024x768 tối đa 256 màu (8 bit màu).
- 1280x1024 tối đa 16 màu (4 bit màu).
b) Dành cho máy 586 trở đi:
Card màn hình hiện nay có giao tiếp PCI, Ram trên card thường từ 1 Mb đến 4Mb. Tăng tốc đồ hoạ và hổ trợ MPEG.
Chú ý: Số lượng Ram trên card ảnh hưởng chủ yếu đến độ phân giải và độ sâu màu, ít ảnh hưởng đến tốc độ. Muốn tăng tốc độ card màn hình, phải dùng loại Ram nhanh hơn chớ không phải đơn giản là tăng dung lượng Ram.
2/ Monitor:
Ða số monitor đang được bán là loại Super VGA, các monitor VGA không còn thấy bán nữa, do đó chúng tôi chỉ đề cập đến loại Super VGA 14 inches thông dụng.
- Ðộ phân giải tối đa: 1024x768.
- Chế độ hoạt động: có 2 loại Interlaced và Non Interlaced.
- Tần số quét ngang/dọc: có 2 loại chất lượng thấp và chất lượng cao, cả 2 loại đều là quét tự động (Multi Scan).
a) Ðộ phân giải:
Ðộ phân giải tức là số điểm trên màn hình theo chiều ngang và chiều cao. Thí dụ: 640x480 tức là ngang có 640 điểm và cao có 480 điểm. Ðộ phân giải càng cao hình có thể hiển thị càng nhiều và càng nhỏ vì số điểm tăng trong khi diện tích không thay đổi, thời gian cập nhật màn hình càng lâu.
Bạn cần phân biệt giữa độ phân giải và Dot pitch (Khoảng cách giữa 2 điểm kề nhau trên màn hình tính bằng mm, Dot pitch càng nhỏ màn hình càng sắc nét). Thí dụ: 800x600 0.28mm có nghĩa là 800 điểm ngang, 600 điểm dọc và khoảng cách giửa 2 điểm kề nhau 0,28mm.
Bạn cần phân biệt giữa độ phân giải và số điểm phát sáng thật sự trên màn hình màu. Mỗi điểm của độ phân giải do 3 điểm phát sáng của 3 màu cơ bản hợp lại tương tự như màn hình tivi. Như vậy bạn cứ lấy độ phân giải x 3 thì được số lượng điểm phát sáng thực sự trên màn hình.
b) Interlaced:
Quét xen kẻ (interlacted) là kỹ thuật cập nhật màn hình đặc biệt để giảm giá thành monitor. Bạn hãy tưởng tượng đơn giản là màn hình của bạn có 480 vạch liên tiếp nhau từ trên xuống, theo nguyên tắc nó phải được cập nhật (tối/sáng) tối thiểu 50 lần trong 1 giây thì mắt bạn sẽ không phát hiện được do mắt có độ lưu ảnh. Nhưng để làm được chuyện nầy đòi hỏi tần số quét ngang (horizontal frequency) phải cao kéo theo tăng giá thành. Do đó người ta cho cập nhật xen kẻ, tức là trong mỗi lần chỉ cập nhật 240 vạch có số thứ tự chẵn hay lẻ (như vậy phải 2 lần cập nhật liên tiếp mới đủ 480 vạch) và tăng tốc độ cập nhật lên 70 lần.
Mặc dù đã tăng tốc độ cập nhật, nhưng mắt chúng ta vẫn thấy chớp vì thực tế mỗi vạch chỉ được cập nhật có 35 lần trong 1 giây dù cho việc xen kẻ có làm giảm bớt hiện tượng nầy. Do đó rất ít người chấp nhận sử dụng màn hình nầy.
c) Non Interlacted:
Màn hình nầy có chất lượng cao và giá thành cũng cao hơn loại interlaced.
d) Tần số quét:
Quét dọc (vertical):
Là tần số cập nhật màn hình/giây. Thí dụ: 70Hz có nghĩa trong một giây cập nhật màn hình 70 lần. Tần số nầy tối thiểu phải là 50Hz cho độ phân giải thấp và 60-70Hz cho độ phân giải cao.
Quét ngang (horizontal):
Tần số nầy khó nói cho các bạn hình dung nhưng các bạn có thể hiểu đơn giản là nó lệ thuộc vào tốc độ cập nhật màn hình x độ phân giải, có nghĩa nếu tốc độ cập nhật càng cao hay độ phân giải càng cao thì tần số quét ngang càng cao. (chính vì để giảm tần số nầy mớt xuất hiện monitor interlaced). Về mặt kỹ thuật tần số càng cao, thiết kế và sản xuất càng khó khăn nên tiêu chuẩn quét ngang là quan trọng nhất đối với monitor của máy tính và cho cả tivi dân dụng.
- Ðối với màn hình interlaced, tần số nầy tối đa là: 31KHz cho loại chất lượng thấp và 36KHz cho loại chất lượng cao.
- Ðối với màn hình non interlaced, tần số nầy tối thiểu là: 48KHz và tối đa có thể lên tới 100KHz trên các màn hình lớn.
Chú ý:
Màn hình Super VGA Interlaced chất lượng thấp chỉ thực hiện việc quét xen kẽ khi vào chế độ 800x600 trở lên, còn ở các chế độ khác nó là non interlaced.
Màn hình Super VGA Interlaced chất lượng cao chỉ thực hiện việc quét xen kẽ khi vào chế độ 1024x768 trở lên, còn ở các chế độ khác nó là non interlaced.
e)Ðiều chỉnh:
Các Monitor đời cũ chỉnh theo kiểu Analog và có các nút điều chỉnh sau:
Ðộ sáng. Ðộ tương phản. Kích thước ngang. Kích thước dọc. Di chuyển ngang. Di chuyển dọc. Chỉnh méo gối.
Các Monitor đời mới chỉnh theo kiểu Digital tức là dùng nút bấm thay cho nút vặn. Ngoài các chức năng điều chỉnh như Analog, chúng có thề có thêm nút điều chỉnh độ nghiêng của màn hình.
f)Phương pháp kiểm tra màn hình:
Khi mua:
Ðể kiểm tra màn hình là loại interlaced hay non interlaced khi mua monitor là bạn đọc trên nhãn thùng máy, nhãn dán sau đít máy và đọc trong sách hướng dẫn kèm theo monitor các chỉ tiêu sau:
* Horizontal:
- Nếu tối đa 31KHz, là interlaced chất lượng thấp.
- Nếu tối đa 35KHz, là interlaced chất lượng cao.
- Nếu tối đa 48KHz, là non interlaced chất lượng thấp (đạt yêu cầu cho loại 14 inches).
- Nếu tối đa 57KHz, là non interlaced chất lượng trung bình (dùng cho màn hình trên 14 inches).
- Nếu tối đa 64KHz, là non interlaced chất lượng cao (dùng cho màn hình trên 14 inches).
* Vertical:
Phải từ 50-90Hz (quét tự động)
* Resolusion max (độ phân giải tối đa):
1024x768 cho 14 inches. Cao hơn cho các màn hình trên 15 inches.
Khi sử dụng:
Ðòi hỏi bạn phải có card màn hình 1Mb, chạy được chế độ 1024x768 non interlaced. Dùng chương trình test màn hình trong dĩa của hãng sản xuất để kiểm tra màn hình của bạn. Nếu bạn không có chương trình nầy thì có thể dùng Windows để kiểm tra.
Các hướng dẫn dưới đây vừa để Test màn hình vừa để chạy Windows ở các chế độ trên 800x600 non interlaced.
- Bước 1: ở ngoài Dos, vào thư mục Windows, đánh Setup. Chọn driver màn hình là Supper VGA 1024x768 của Windows hay driver 1024x768 trong đĩa kèm theo card màn hình của hãng sn xuất (khuyên bạn nên dùng driver nầy). Cuối cùng trở về lại Dos.
- Bước 2: Dùng trình tiện ích chứa trong đĩa kèm theo card màn hình cài chế độ Graphic 1024x768 non interlaced ngoài Dos (chương trình nầy luôn luôn có trong đĩa của tất cả các loại card màn hình). Mục đích là ép Windows phải chạy chế độ non interlaced khi khởi động, vì mặc nhiên của Windows là chọn interlaced cho các chế độ trên 800x600 khi chạy.
Chú ý: Không được chạy NC sau khi chạy trình tiện ích vì khi NC chạy sẽ áp đặt lại chế độ TEXT cho màn hình.
- Bước 3: Khởi động Windows, chạy Excel hay bất cứ chương trình gì mà khi hiển thị có nhiều đường ngang (càng nhiều càng tốt và càng khít thì càng dể xác định).
Nếu các đường ngang nầy chớp liên tục là màn hình đang chạy interlaced.
Nếu các đường nầy bình thường là đang chạy non interlaced.
Xem bai viet voi font ABC
Trên các máy 386, tốc độ card màn hình không quan trọng lắm nên người dùng không chú ý mà chỉ quan tâm đến độ phân giải.
Khi bạn sử dụng máy từ 486 trở đi thì monitor và card màn hình có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất toàn hệ thống, vì nếu chúng chạy chậm sẽ gây ra hiện tượng thắt cổ chai làm giảm tốc độ toàn bộ hệ thống.
1/ Card màn hình:
a) Dành cho máy 386:
Card màn hình của 386 cũng có các đặc điểm gíống như 486, nó chỉ khác là chạy 16Bit nên tốc độ chậm hơn và cũng có card tăng tốc 16Bit.
b) Dành cho máy 486:
Nếu đã mua máy 486 để tận dụng tốc độ cao thì không có lý do gì để giữ lại card màn hình 16Bit chậm chạp, Do tốc độ chậm nó sẽ kềm hãm tốc độ xử lý của CPU và khi bị thúc ép quá nó sẽ cập nhật màn hình lung tung hay gây ra nhiều hiện tượng kỳ quái khác mà bạn không thể ngờ là do card màn hình chậm chạp gây ra.
Tối thiểu bạn nên trang bị card màn hình 32Bit (VL Bus) thường với 1Mb ram, tối ưu là card màn hình tăng tốc 32Bit (VL Bus Accelerator) với 1Mb ram. Khi chạy các chương trình đồ hoạ bạn mới thấy hiệu quả của nó thật xứng đáng với đồng tiền bạn bỏ ra. Card tăng tốc khác card thường ở chỗ nó có thêm 1 con CPU chuyên dùng để tính toán việc cập nhật màn hình (tốc độ tính toán của nó còn nhanh hơn tốc độ tính của CPU trên máy do nó được thiết kế chỉ để làm việc nầy. Khi làm việc, CPU trên máy chỉ cần ra những lịnh tổng quát, còn việc tính toán cập nhật từng điểm trên màn hình do con CPU nầy đảm nhiệm), tốc độ cập nhật vừa nhanh lại vừa giải phóng thời gian cho CPU chính làm chuyện khác.
Ðộ phân giải cuả card 32Bit thường với 1Mb ram như sau:
- 640x480 tối đa 16 triệu màu (24 bit màu).
- 800x600 tối đa 65.536 màu (16 bit màu).
- 1024x768 tối đa 256 màu (8 bit màu).
Ðộ phân giải cuả card 32Bit tăng tốc với 1Mb ram như sau:
- 640x480 tối đa 16,7 triệu màu (24 bit màu).
- 800x600 tối đa 256 màu (8 bit màu).
- 1024x768 tối đa 256 màu (8 bit màu).
- 1280x1024 tối đa 16 màu (4 bit màu).
b) Dành cho máy 586 trở đi:
Card màn hình hiện nay có giao tiếp PCI, Ram trên card thường từ 1 Mb đến 4Mb. Tăng tốc đồ hoạ và hổ trợ MPEG.
Chú ý: Số lượng Ram trên card ảnh hưởng chủ yếu đến độ phân giải và độ sâu màu, ít ảnh hưởng đến tốc độ. Muốn tăng tốc độ card màn hình, phải dùng loại Ram nhanh hơn chớ không phải đơn giản là tăng dung lượng Ram.
2/ Monitor:
Ða số monitor đang được bán là loại Super VGA, các monitor VGA không còn thấy bán nữa, do đó chúng tôi chỉ đề cập đến loại Super VGA 14 inches thông dụng.
- Ðộ phân giải tối đa: 1024x768.
- Chế độ hoạt động: có 2 loại Interlaced và Non Interlaced.
- Tần số quét ngang/dọc: có 2 loại chất lượng thấp và chất lượng cao, cả 2 loại đều là quét tự động (Multi Scan).
a) Ðộ phân giải:
Ðộ phân giải tức là số điểm trên màn hình theo chiều ngang và chiều cao. Thí dụ: 640x480 tức là ngang có 640 điểm và cao có 480 điểm. Ðộ phân giải càng cao hình có thể hiển thị càng nhiều và càng nhỏ vì số điểm tăng trong khi diện tích không thay đổi, thời gian cập nhật màn hình càng lâu.
Bạn cần phân biệt giữa độ phân giải và Dot pitch (Khoảng cách giữa 2 điểm kề nhau trên màn hình tính bằng mm, Dot pitch càng nhỏ màn hình càng sắc nét). Thí dụ: 800x600 0.28mm có nghĩa là 800 điểm ngang, 600 điểm dọc và khoảng cách giửa 2 điểm kề nhau 0,28mm.
Bạn cần phân biệt giữa độ phân giải và số điểm phát sáng thật sự trên màn hình màu. Mỗi điểm của độ phân giải do 3 điểm phát sáng của 3 màu cơ bản hợp lại tương tự như màn hình tivi. Như vậy bạn cứ lấy độ phân giải x 3 thì được số lượng điểm phát sáng thực sự trên màn hình.
b) Interlaced:
Quét xen kẻ (interlacted) là kỹ thuật cập nhật màn hình đặc biệt để giảm giá thành monitor. Bạn hãy tưởng tượng đơn giản là màn hình của bạn có 480 vạch liên tiếp nhau từ trên xuống, theo nguyên tắc nó phải được cập nhật (tối/sáng) tối thiểu 50 lần trong 1 giây thì mắt bạn sẽ không phát hiện được do mắt có độ lưu ảnh. Nhưng để làm được chuyện nầy đòi hỏi tần số quét ngang (horizontal frequency) phải cao kéo theo tăng giá thành. Do đó người ta cho cập nhật xen kẻ, tức là trong mỗi lần chỉ cập nhật 240 vạch có số thứ tự chẵn hay lẻ (như vậy phải 2 lần cập nhật liên tiếp mới đủ 480 vạch) và tăng tốc độ cập nhật lên 70 lần.
Mặc dù đã tăng tốc độ cập nhật, nhưng mắt chúng ta vẫn thấy chớp vì thực tế mỗi vạch chỉ được cập nhật có 35 lần trong 1 giây dù cho việc xen kẻ có làm giảm bớt hiện tượng nầy. Do đó rất ít người chấp nhận sử dụng màn hình nầy.
c) Non Interlacted:
Màn hình nầy có chất lượng cao và giá thành cũng cao hơn loại interlaced.
d) Tần số quét:
Quét dọc (vertical):
Là tần số cập nhật màn hình/giây. Thí dụ: 70Hz có nghĩa trong một giây cập nhật màn hình 70 lần. Tần số nầy tối thiểu phải là 50Hz cho độ phân giải thấp và 60-70Hz cho độ phân giải cao.
Quét ngang (horizontal):
Tần số nầy khó nói cho các bạn hình dung nhưng các bạn có thể hiểu đơn giản là nó lệ thuộc vào tốc độ cập nhật màn hình x độ phân giải, có nghĩa nếu tốc độ cập nhật càng cao hay độ phân giải càng cao thì tần số quét ngang càng cao. (chính vì để giảm tần số nầy mớt xuất hiện monitor interlaced). Về mặt kỹ thuật tần số càng cao, thiết kế và sản xuất càng khó khăn nên tiêu chuẩn quét ngang là quan trọng nhất đối với monitor của máy tính và cho cả tivi dân dụng.
- Ðối với màn hình interlaced, tần số nầy tối đa là: 31KHz cho loại chất lượng thấp và 36KHz cho loại chất lượng cao.
- Ðối với màn hình non interlaced, tần số nầy tối thiểu là: 48KHz và tối đa có thể lên tới 100KHz trên các màn hình lớn.
Chú ý:
Màn hình Super VGA Interlaced chất lượng thấp chỉ thực hiện việc quét xen kẽ khi vào chế độ 800x600 trở lên, còn ở các chế độ khác nó là non interlaced.
Màn hình Super VGA Interlaced chất lượng cao chỉ thực hiện việc quét xen kẽ khi vào chế độ 1024x768 trở lên, còn ở các chế độ khác nó là non interlaced.
e)Ðiều chỉnh:
Các Monitor đời cũ chỉnh theo kiểu Analog và có các nút điều chỉnh sau:
Ðộ sáng. Ðộ tương phản. Kích thước ngang. Kích thước dọc. Di chuyển ngang. Di chuyển dọc. Chỉnh méo gối.
Các Monitor đời mới chỉnh theo kiểu Digital tức là dùng nút bấm thay cho nút vặn. Ngoài các chức năng điều chỉnh như Analog, chúng có thề có thêm nút điều chỉnh độ nghiêng của màn hình.
f)Phương pháp kiểm tra màn hình:
Khi mua:
Ðể kiểm tra màn hình là loại interlaced hay non interlaced khi mua monitor là bạn đọc trên nhãn thùng máy, nhãn dán sau đít máy và đọc trong sách hướng dẫn kèm theo monitor các chỉ tiêu sau:
* Horizontal:
- Nếu tối đa 31KHz, là interlaced chất lượng thấp.
- Nếu tối đa 35KHz, là interlaced chất lượng cao.
- Nếu tối đa 48KHz, là non interlaced chất lượng thấp (đạt yêu cầu cho loại 14 inches).
- Nếu tối đa 57KHz, là non interlaced chất lượng trung bình (dùng cho màn hình trên 14 inches).
- Nếu tối đa 64KHz, là non interlaced chất lượng cao (dùng cho màn hình trên 14 inches).
* Vertical:
Phải từ 50-90Hz (quét tự động)
* Resolusion max (độ phân giải tối đa):
1024x768 cho 14 inches. Cao hơn cho các màn hình trên 15 inches.
Khi sử dụng:
Ðòi hỏi bạn phải có card màn hình 1Mb, chạy được chế độ 1024x768 non interlaced. Dùng chương trình test màn hình trong dĩa của hãng sản xuất để kiểm tra màn hình của bạn. Nếu bạn không có chương trình nầy thì có thể dùng Windows để kiểm tra.
Các hướng dẫn dưới đây vừa để Test màn hình vừa để chạy Windows ở các chế độ trên 800x600 non interlaced.
- Bước 1: ở ngoài Dos, vào thư mục Windows, đánh Setup. Chọn driver màn hình là Supper VGA 1024x768 của Windows hay driver 1024x768 trong đĩa kèm theo card màn hình của hãng sn xuất (khuyên bạn nên dùng driver nầy). Cuối cùng trở về lại Dos.
- Bước 2: Dùng trình tiện ích chứa trong đĩa kèm theo card màn hình cài chế độ Graphic 1024x768 non interlaced ngoài Dos (chương trình nầy luôn luôn có trong đĩa của tất cả các loại card màn hình). Mục đích là ép Windows phải chạy chế độ non interlaced khi khởi động, vì mặc nhiên của Windows là chọn interlaced cho các chế độ trên 800x600 khi chạy.
Chú ý: Không được chạy NC sau khi chạy trình tiện ích vì khi NC chạy sẽ áp đặt lại chế độ TEXT cho màn hình.
- Bước 3: Khởi động Windows, chạy Excel hay bất cứ chương trình gì mà khi hiển thị có nhiều đường ngang (càng nhiều càng tốt và càng khít thì càng dể xác định).
Nếu các đường ngang nầy chớp liên tục là màn hình đang chạy interlaced.
Nếu các đường nầy bình thường là đang chạy non interlaced.
cài card màn hình
cài card màn hình
VASC biên dịch Theo planethardware
Mục đích của chúng tôi là hướng dẫn các bạn cài đặt card màn hình vào máy tính. Công việc sẽ trở nên rất đơn giản nếu các bạn thực hiện theo các bước sau đây:
Bước 1: Chuẩn bị
Bước đầu tiên trong tiến trình cài đặt card màn hình vào một máy tính là phải gỡ bỏ driver cũ đã cài vào hệ điều hành từ trước đó. Tuy nhiên, trước khi làm việc đó, bạn phải đọc kỹ quyển hướng dẫn sử dụng (User's Manual) gửi kèm theo card màn hình mới của bạn. Thường thì quyển sách sẽ hướng dẫn bạn qua các bước cụ thể, tương tự như lời hướng dẫn ở đây của chúng tôi.
Bạn hãy mở system properties (thuộc tính hệ thống) bằng cách nhắp chuột phải vào biểu tượng My Computer trên màn hình, và chọn properties. Bạn cũng có thể làm theo cách khác, bằng cách mở Control Panel, và nhắp đúp vào biểu tượng System. Khi cửa sổ System Properties được mở, bạn hãy chọn thẻ Device Manager, kéo thanh cuộn (scroll bar) xuống mục Display Adapter. Khi bạn chọn mục này, máy tính sẽ hiển thị card màn hình hiện thời. Nhắp vào và lựa tuỳ chọn Remove (gỡ bỏ), chọn Yes khi cửa sổ nhắc (prompting window) hiện ra.
Card màn hình trước đây của bạn có thể đi kèm theo một số phần mềm chuyên biệt, tức là chỉ sử dụng được bằng card cũ. Vì vậy bạn sẽ phải gỡ bỏ cả những phần mềm đó đi. Bạn hãy chọn Control Panel, nhắp vào biểu tượng Add/Remove Programs. Tất cả các phần mềm đã cài đặt đều được liệt kê tại đây, bạn có thể nhìn thấy phần mềm cần gỡ bỏ. Khi bạn đã gỡ bỏ phần mềm, máy tính sẽ yêu cầu bạn khởi động lại hệ thống. Bắt đầu từ đây, bạn có thể thực hiện một trong hai cách thức cơ bản: bạn gỡ bỏ card cũ và cài card mới, khởi động lại máy khi quá trình cài đặt xong xuôi; hoặc bạn có thể quay lại Windows và máy tính sẽ tự động phát hiện card màn hình, và thường thì máy tính sẽ hiện ra Standard PCI Graphics Adapter (VGA) (driver card màn hình ngầm định mà Microsoft cung cấp).
Thao tác trên thường được thực hiện trong Windows 95 để việc cài đặt card màn hình mới được dễ dàng hơn. Nhưng nếu bạn đang sử dụng hệ điều hành Windows 98 hoặc cao hơn, thì không nhất thiết phải thực hiện thao tác trên. Vấn đề ở đây là khi máy tính khởi động lại với card màn hình cũ, nó sẽ tự động phát hiện và sau đó tự động cài đặt driver trước đây của bạn (thậm chí không hề đưa ra lời khuyến cáo bạn cài Standard PCI Graphics Adapter). Vì thế, chúng tôi khuyên bạn không nên thực hiện thao tác này.
Nếu bạn đang dùng máy tính có chip màn hình on-board, tức là chip được gắn lền với bo mạch chủ, bạn nên vô hiệu hoá nó. Bạn có thể rút jumper trên bo mạch, hoặc thay đổi tuỳ chọn trong BIOS. Để thao tác một cách chính xác, bạn nên đọc qua tài liệu hướng dẫn mà nhà sản xuất bo mạch chủ đưa cho bạn. Nếu không có, bạn có thể tải tài liệu này từ Website của nhà sản xuất.
Bước 2: Lắp đặt card màn hình
Đây là bước mà những người chưa quen với việc cài đặt nghĩ rằng chắc là rất khó. Bởi vì khi bạn mở vỏ máy ra là bạn nhìn ngay thấy lớp lớp các bản mạch điện tử cắm xen kẽ nhau và bạn cảm thấy sợ hãi vì nghĩ rằng mình sẽ đụng chạm đến một chi tiết nào đó và làm hỏng hóc một bộ phận trong máy tính. Nhưng thực sự cài đặt một card màn hình là một công việc rất dễ dàng.
Bạn hãy lấy card màn hình mới ra và kiểm tra loại chân cắm mà nó sử dụng (có thể nó được giới thiệu trên hộp đựng card màn hình của bạn). Chân cắm nằm trong hai loại sau:
Loại thứ nhất giống như chiếc card ở phía trên trong hình minh họa, card này sử dụng chân cắm AGP. Loại thứ hai giống như chiếc card ở bên dưới hình minh hoạ, nó sử dụng chân cắm PCI. Phần lớn các loại card sản xuất hiện nay sử dụng chân cắm AGP nhiều hơn là PCI, bởi vì AGP (Accelerated Graphics Port - cổng tăng tốc đồ họa) được thiết kế riêng cho các loại card đồ họa. Bus AGP chạy ở tốc độ mặc định là 66 MHz, trong khi bus PCI chạy ở tốc độ 33 MHz. Bus AGP cũng có khả năng hỗ trợ băng thông cao hơn, lên tới 1.017MB/giây ở chế độ 4x, và 508.6MB/giây ở chế độ 2x. Loại PCI chỉ có thể đạt băng thông 127,2MB/giây, không thích hợp đối với các loại máy tính hiện nay. Bus AGP cũng hỗ trợ truy cập bộ nhớ hệ thống chính cho việc lưu trữ và tìm kiếm dữ liệu, thay cho việc chỉ duy nhất sử dụng thẻ nhớ.
Bây giờ là lúc bạn gỡ bỏ card màn hình cũ. Loại card cũ của bạn có thể nằm trong khe cắm PCI hoặc AGP. Bạn có thể dễ dàng xác định được card màn hình bởi vì nó được nối trực tiếp với màn hình máy tính thông qua một dây dẫn lớn. Bạn hãy dùng tua-vít tháo ốc, nhẹ nhàng rút chiếc card ra khỏi khe cắm. Khi đã lấy card cũ ra khỏi máy, bạn nên cho nó vào một bao mềm để bảo quản tránh hư hỏng.
Tiếp theo, chắc hẳn bạn muốn cắm chiếc card mới vào đúng loại khe cắm trên bo mạch chủ dành cho nó. ở trong hình mình họa, khe cắm màu trắng là PCI, màu nâu là AGP.
Bây giờ, bạn hãy đưa chiếc card màn hình vào đúng khe cắm đã xác định. Bạn không nên làm xô lệch các bộ phận khác trong máy. Trước khi cắm card vào khe cắm, bạn nên giữ cho chúng thẳng hàng và vuông góc với bo mạch chủ.
Sau khi đã đặt thẳng hàng, bạn có thể nhẹ nhàng ấn card xuống khe cắm. Chú ý rằng phải ấn chân cắm của card xuống hết khe cắm, để cho tất cả các bộ phận tiếp xúc ở chân cắm có thể liên kết với các bộ phận ở khe cắm.
Khi đã xong xuôi, bạn phải vặn ốc để giữ cố định card màn hình trong vỏ máy. Thường thì chúng tôi sẽ không vặn ốc chặt ngay, mà chúng tôi sẽ cài đặt và thiết lập cấu hình cho card mới hoàn chỉnh rồi mới vặn ốc chặt. Bởi vì khi cài đặt card mới có thể bạn sẽ gặp phải một số trục trặc hay xung đột và lúc đó bạn lại phải tháo ốc ra.
Bước 3: Cài đặt trình điều khiển (driver) card màn hình
Sau khi bạn đã hoàn thành việc lắp đặt card màn hình, và chiếc card đã được cắm dây nối với màn hình, bạn có thể tiến hành cài đặt trình điều khiển (driver) cho card mới. Bạn hãy bật máy tính lên. Nếu màn hình hiển thị theo chế độ khởi động lại thì bạn có thể bắt đầu quá trình cài đặt. Nếu màn hình không thị gì thì tức là bạn đã cắm nhầm card vào một khe cắm không đúng, hoặc bạn đã quên gỡ bỏ chip màn hình trên bo mạch (on-board) và từ đó có xung đột xảy ra.
Khi quá trình khởi động của máy tính diễn ra bình thường, máy tính sẽ hiển thị một cửa sổ tự động phát hiện card mới. Cửa sổ này sẽ nhắc bạn chọn trình điều khiển cho chiếc card màn hình mới của bạn. Trình điều khiển này thường được nhà chế tạo cung cấp cho bạn khi bạn mua card và thường là nằm trong một đĩa CD-ROM. (Bạn hãy chỉ đường dẫn cho máy đến trình điều khiển đó khi cửa sổ trên hiện ra). Nếu bạn không có đĩa CD-ROM chứa trình điều khiển, máy tính sẽ tự động cài đặt trình điều khiển chuẩn Standard PCI Graphics Adapter, nó sẽ không đúng lắm so với trình điều khiển của nhà chế tạo. Xét trên một khía cạnh nào đó thì việc cài đặt trình điều khiển chuẩn này cũng có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, bạn nên nhanh chóng kiếm trình điều khiển đúng với chiếc card của bạn do nhà chế tạo cung cấp.
Giả sử bạn đã có đĩa CD-ROM chứa trình điều khiển card màn hình. Khi bạn đặt đĩa vào ổ đọc CD, file autorun sẽ tự động chạy file setup.exe, và bạn có thể tiến hành cài đặt theo trình tự do phần mềm đưa ra.
Bước 4: Khắc phục sự cố
Khi cài đặt, bạn có thể sẽ gặp phải một số trục trặc. Chúng tôi xin nêu ra ở đây một số lỗi thường gặp trong quá trình cài đặt card màn hình. Đầu tiên, nếu máy tính không bật lên sau khi bạn cài đặt card màn hình (hoặc phát ra tiếng kêu bip bip bip), bạn có thể cần phải gỡ bỏ card mới và cắm lại card màn hình cũ vào máy tính . Nếu card cũ chạy bình thường thì tức là card mới của bạn đã xung đột với hệ thống, hoặc card mới của bạn đã bị hỏng vì một lý do kỳ cục nào đó. Cũng có thể trong quá trình lắp đặt card mới bạn đã làm xô lệch chân cắm của một số thiết bị bên trong vỏ máy. Vì vậy, bạn hãy kiểm tra kỹ lại vị trí thanh nhớ Ram hay CPU cũng như các dây cáp trong máy.
Một trục trặc nữa cũng thường xảy ra là màn hình sẽ tối đen khi bạn chơi một trò chơi (game) đặc biệt nào đó. Lỗi là do card màn hình của bạn lúc đó liên hệ với màn hình thông qua trình điều khiển plug & play ngầm định, không phải trình điều khiển của loại màn hình bạn đang sử dụng. Công việc bạn phải làm lúc này là liên hệ với nhà sản xuất màn hình và xin trình điều khiển chuẩn cho loại màn hình máy tính của bạn. Khi đã cài đặt xong trình điều khiển chuẩn, bạn có thể yên tâm chơi bất cứ loại game nào.
Nếu thỉnh thoảng màn hình lại bị treo khi đang sử dụng máy tính, có thể nguyên nhân là do card quá nóng hoặc chạy không đúng đặc tính kỹ thuật. Trường hợp card bị nóng, bạn cần thay một chiếc quạt gió lớn hơn cho máy. Trường hợp thứ hai bạn cần sửa lại đồng hồ hệ thống. Nguyên nhân là do tốc độ của chip đã bị ép chạy quá tốc độ. Bạn có thể sử dụng một chương trình gọi là powerstrip để giảm tốc độ chip xuống. Nếu các cách thức trên vẫn không cải thiện được tình hình thì có lẽ là bạn đã mua phải một card màn hình tồi.
Trên đây là cách thức cài đặt mới một card màn hình. Chúng tôi hy vọng qua hướng dẫn trên bạn có thể tự mình cài đặt chiếc card thành công.
VASC biên dịch Theo planethardware
Mục đích của chúng tôi là hướng dẫn các bạn cài đặt card màn hình vào máy tính. Công việc sẽ trở nên rất đơn giản nếu các bạn thực hiện theo các bước sau đây:
Bước 1: Chuẩn bị
Bước đầu tiên trong tiến trình cài đặt card màn hình vào một máy tính là phải gỡ bỏ driver cũ đã cài vào hệ điều hành từ trước đó. Tuy nhiên, trước khi làm việc đó, bạn phải đọc kỹ quyển hướng dẫn sử dụng (User's Manual) gửi kèm theo card màn hình mới của bạn. Thường thì quyển sách sẽ hướng dẫn bạn qua các bước cụ thể, tương tự như lời hướng dẫn ở đây của chúng tôi.
Bạn hãy mở system properties (thuộc tính hệ thống) bằng cách nhắp chuột phải vào biểu tượng My Computer trên màn hình, và chọn properties. Bạn cũng có thể làm theo cách khác, bằng cách mở Control Panel, và nhắp đúp vào biểu tượng System. Khi cửa sổ System Properties được mở, bạn hãy chọn thẻ Device Manager, kéo thanh cuộn (scroll bar) xuống mục Display Adapter. Khi bạn chọn mục này, máy tính sẽ hiển thị card màn hình hiện thời. Nhắp vào và lựa tuỳ chọn Remove (gỡ bỏ), chọn Yes khi cửa sổ nhắc (prompting window) hiện ra.
Card màn hình trước đây của bạn có thể đi kèm theo một số phần mềm chuyên biệt, tức là chỉ sử dụng được bằng card cũ. Vì vậy bạn sẽ phải gỡ bỏ cả những phần mềm đó đi. Bạn hãy chọn Control Panel, nhắp vào biểu tượng Add/Remove Programs. Tất cả các phần mềm đã cài đặt đều được liệt kê tại đây, bạn có thể nhìn thấy phần mềm cần gỡ bỏ. Khi bạn đã gỡ bỏ phần mềm, máy tính sẽ yêu cầu bạn khởi động lại hệ thống. Bắt đầu từ đây, bạn có thể thực hiện một trong hai cách thức cơ bản: bạn gỡ bỏ card cũ và cài card mới, khởi động lại máy khi quá trình cài đặt xong xuôi; hoặc bạn có thể quay lại Windows và máy tính sẽ tự động phát hiện card màn hình, và thường thì máy tính sẽ hiện ra Standard PCI Graphics Adapter (VGA) (driver card màn hình ngầm định mà Microsoft cung cấp).
Thao tác trên thường được thực hiện trong Windows 95 để việc cài đặt card màn hình mới được dễ dàng hơn. Nhưng nếu bạn đang sử dụng hệ điều hành Windows 98 hoặc cao hơn, thì không nhất thiết phải thực hiện thao tác trên. Vấn đề ở đây là khi máy tính khởi động lại với card màn hình cũ, nó sẽ tự động phát hiện và sau đó tự động cài đặt driver trước đây của bạn (thậm chí không hề đưa ra lời khuyến cáo bạn cài Standard PCI Graphics Adapter). Vì thế, chúng tôi khuyên bạn không nên thực hiện thao tác này.
Nếu bạn đang dùng máy tính có chip màn hình on-board, tức là chip được gắn lền với bo mạch chủ, bạn nên vô hiệu hoá nó. Bạn có thể rút jumper trên bo mạch, hoặc thay đổi tuỳ chọn trong BIOS. Để thao tác một cách chính xác, bạn nên đọc qua tài liệu hướng dẫn mà nhà sản xuất bo mạch chủ đưa cho bạn. Nếu không có, bạn có thể tải tài liệu này từ Website của nhà sản xuất.
Bước 2: Lắp đặt card màn hình
Đây là bước mà những người chưa quen với việc cài đặt nghĩ rằng chắc là rất khó. Bởi vì khi bạn mở vỏ máy ra là bạn nhìn ngay thấy lớp lớp các bản mạch điện tử cắm xen kẽ nhau và bạn cảm thấy sợ hãi vì nghĩ rằng mình sẽ đụng chạm đến một chi tiết nào đó và làm hỏng hóc một bộ phận trong máy tính. Nhưng thực sự cài đặt một card màn hình là một công việc rất dễ dàng.
Bạn hãy lấy card màn hình mới ra và kiểm tra loại chân cắm mà nó sử dụng (có thể nó được giới thiệu trên hộp đựng card màn hình của bạn). Chân cắm nằm trong hai loại sau:
Loại thứ nhất giống như chiếc card ở phía trên trong hình minh họa, card này sử dụng chân cắm AGP. Loại thứ hai giống như chiếc card ở bên dưới hình minh hoạ, nó sử dụng chân cắm PCI. Phần lớn các loại card sản xuất hiện nay sử dụng chân cắm AGP nhiều hơn là PCI, bởi vì AGP (Accelerated Graphics Port - cổng tăng tốc đồ họa) được thiết kế riêng cho các loại card đồ họa. Bus AGP chạy ở tốc độ mặc định là 66 MHz, trong khi bus PCI chạy ở tốc độ 33 MHz. Bus AGP cũng có khả năng hỗ trợ băng thông cao hơn, lên tới 1.017MB/giây ở chế độ 4x, và 508.6MB/giây ở chế độ 2x. Loại PCI chỉ có thể đạt băng thông 127,2MB/giây, không thích hợp đối với các loại máy tính hiện nay. Bus AGP cũng hỗ trợ truy cập bộ nhớ hệ thống chính cho việc lưu trữ và tìm kiếm dữ liệu, thay cho việc chỉ duy nhất sử dụng thẻ nhớ.
Bây giờ là lúc bạn gỡ bỏ card màn hình cũ. Loại card cũ của bạn có thể nằm trong khe cắm PCI hoặc AGP. Bạn có thể dễ dàng xác định được card màn hình bởi vì nó được nối trực tiếp với màn hình máy tính thông qua một dây dẫn lớn. Bạn hãy dùng tua-vít tháo ốc, nhẹ nhàng rút chiếc card ra khỏi khe cắm. Khi đã lấy card cũ ra khỏi máy, bạn nên cho nó vào một bao mềm để bảo quản tránh hư hỏng.
Tiếp theo, chắc hẳn bạn muốn cắm chiếc card mới vào đúng loại khe cắm trên bo mạch chủ dành cho nó. ở trong hình mình họa, khe cắm màu trắng là PCI, màu nâu là AGP.
Bây giờ, bạn hãy đưa chiếc card màn hình vào đúng khe cắm đã xác định. Bạn không nên làm xô lệch các bộ phận khác trong máy. Trước khi cắm card vào khe cắm, bạn nên giữ cho chúng thẳng hàng và vuông góc với bo mạch chủ.
Sau khi đã đặt thẳng hàng, bạn có thể nhẹ nhàng ấn card xuống khe cắm. Chú ý rằng phải ấn chân cắm của card xuống hết khe cắm, để cho tất cả các bộ phận tiếp xúc ở chân cắm có thể liên kết với các bộ phận ở khe cắm.
Khi đã xong xuôi, bạn phải vặn ốc để giữ cố định card màn hình trong vỏ máy. Thường thì chúng tôi sẽ không vặn ốc chặt ngay, mà chúng tôi sẽ cài đặt và thiết lập cấu hình cho card mới hoàn chỉnh rồi mới vặn ốc chặt. Bởi vì khi cài đặt card mới có thể bạn sẽ gặp phải một số trục trặc hay xung đột và lúc đó bạn lại phải tháo ốc ra.
Bước 3: Cài đặt trình điều khiển (driver) card màn hình
Sau khi bạn đã hoàn thành việc lắp đặt card màn hình, và chiếc card đã được cắm dây nối với màn hình, bạn có thể tiến hành cài đặt trình điều khiển (driver) cho card mới. Bạn hãy bật máy tính lên. Nếu màn hình hiển thị theo chế độ khởi động lại thì bạn có thể bắt đầu quá trình cài đặt. Nếu màn hình không thị gì thì tức là bạn đã cắm nhầm card vào một khe cắm không đúng, hoặc bạn đã quên gỡ bỏ chip màn hình trên bo mạch (on-board) và từ đó có xung đột xảy ra.
Khi quá trình khởi động của máy tính diễn ra bình thường, máy tính sẽ hiển thị một cửa sổ tự động phát hiện card mới. Cửa sổ này sẽ nhắc bạn chọn trình điều khiển cho chiếc card màn hình mới của bạn. Trình điều khiển này thường được nhà chế tạo cung cấp cho bạn khi bạn mua card và thường là nằm trong một đĩa CD-ROM. (Bạn hãy chỉ đường dẫn cho máy đến trình điều khiển đó khi cửa sổ trên hiện ra). Nếu bạn không có đĩa CD-ROM chứa trình điều khiển, máy tính sẽ tự động cài đặt trình điều khiển chuẩn Standard PCI Graphics Adapter, nó sẽ không đúng lắm so với trình điều khiển của nhà chế tạo. Xét trên một khía cạnh nào đó thì việc cài đặt trình điều khiển chuẩn này cũng có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, bạn nên nhanh chóng kiếm trình điều khiển đúng với chiếc card của bạn do nhà chế tạo cung cấp.
Giả sử bạn đã có đĩa CD-ROM chứa trình điều khiển card màn hình. Khi bạn đặt đĩa vào ổ đọc CD, file autorun sẽ tự động chạy file setup.exe, và bạn có thể tiến hành cài đặt theo trình tự do phần mềm đưa ra.
Bước 4: Khắc phục sự cố
Khi cài đặt, bạn có thể sẽ gặp phải một số trục trặc. Chúng tôi xin nêu ra ở đây một số lỗi thường gặp trong quá trình cài đặt card màn hình. Đầu tiên, nếu máy tính không bật lên sau khi bạn cài đặt card màn hình (hoặc phát ra tiếng kêu bip bip bip), bạn có thể cần phải gỡ bỏ card mới và cắm lại card màn hình cũ vào máy tính . Nếu card cũ chạy bình thường thì tức là card mới của bạn đã xung đột với hệ thống, hoặc card mới của bạn đã bị hỏng vì một lý do kỳ cục nào đó. Cũng có thể trong quá trình lắp đặt card mới bạn đã làm xô lệch chân cắm của một số thiết bị bên trong vỏ máy. Vì vậy, bạn hãy kiểm tra kỹ lại vị trí thanh nhớ Ram hay CPU cũng như các dây cáp trong máy.
Một trục trặc nữa cũng thường xảy ra là màn hình sẽ tối đen khi bạn chơi một trò chơi (game) đặc biệt nào đó. Lỗi là do card màn hình của bạn lúc đó liên hệ với màn hình thông qua trình điều khiển plug & play ngầm định, không phải trình điều khiển của loại màn hình bạn đang sử dụng. Công việc bạn phải làm lúc này là liên hệ với nhà sản xuất màn hình và xin trình điều khiển chuẩn cho loại màn hình máy tính của bạn. Khi đã cài đặt xong trình điều khiển chuẩn, bạn có thể yên tâm chơi bất cứ loại game nào.
Nếu thỉnh thoảng màn hình lại bị treo khi đang sử dụng máy tính, có thể nguyên nhân là do card quá nóng hoặc chạy không đúng đặc tính kỹ thuật. Trường hợp card bị nóng, bạn cần thay một chiếc quạt gió lớn hơn cho máy. Trường hợp thứ hai bạn cần sửa lại đồng hồ hệ thống. Nguyên nhân là do tốc độ của chip đã bị ép chạy quá tốc độ. Bạn có thể sử dụng một chương trình gọi là powerstrip để giảm tốc độ chip xuống. Nếu các cách thức trên vẫn không cải thiện được tình hình thì có lẽ là bạn đã mua phải một card màn hình tồi.
Trên đây là cách thức cài đặt mới một card màn hình. Chúng tôi hy vọng qua hướng dẫn trên bạn có thể tự mình cài đặt chiếc card thành công.
10 bước cài đặt phần cứng
10 bước cài đặt phần cứng
Thu Trà (theo PCWorld, 10/7)
Ngay cả với một số công nghệ mới như Plug and Play, việc cài đặt phần cứng vẫn có thể gặp rắc rối. Sai sót và trục trặc sẽ làm bạn mất hàng giờ để xử lý. Chỉ dẫn dưới đây sẽ giúp bạn vận hành máy một cách êm ru.
Trước tiên, hãy tạo ra một backup. Hằng ngày, Windows 98 sẽ tự động sao chép để lưu trữ các file Registry. Theo mặc định, nó sẽ lưu giữ 5 backup cuối cùng trong Windows\Sysbckup folder, kiểu như các file .cab có tên là rb xxx.cab (xxx là số của backup, ví dụ như 001 hoặc 002). Hãy copy một file .cab mới nhất và đặt một tên khác sao cho nó không bị ghi đè do copy hỏng. Nếu bạn cần lưu trữ một backup file, hãy khởi động lại hệ thống trong chế độ DOS và chạy regscan.exe.
Tiện ích System Restore của Windows Me sẽ tự động thực hiện việc backup hệ thống. Ấn chuột vào Start, Programs, Accessories, System Tools, System Restore để reload cấu hình hệ thống mà Windows đã lưu từ trước đó.
Cuối cùng, hãy chắc chắn rằng điện trên người bạn đã được tiếp đất. Thậm chí chỉ một sự tích điện tĩnh rất nhỏ trên cơ thể cũng có thể làm hỏng mạch điện tinh xảo trong PC của bạn. Hãy sờ vào phần khung gầm kim loại của hệ thống ngay trước khi bạn rút phích cắm ra khỏi ổ điện được tiếp đất. Luôn luôn phải tháo dỡ tất cả đường dò tới các thiết bị cũ trước khi bạn cài đặt cái mới vào. Hãy làm như sau:
1. Sử dụng chương trình ứng dụng Add/Remove Programs trong Control Panel để gỡ bỏ tất cả phần mềm liên quan tới thiết bị.
2. Dỡ bỏ driver của thiết bị. Nhấn chuột vào Start, Settings, Control Panel, System, chọn phím Device Manager tab, kích đúp chuột vào category của thiết bị, chọn thiết bị mà bạn đang tháo cài đặt và click vào nút Remove. Lưu ý: Để tháo dỡ bộ phận điều khiển của một graphics card (Windows gọi nó là “display adapter”), trước hết kích đúp chuột vào tên thiết bị, chọn Driver tab trong hộp Properties, và chọn nút Update Driver; sau đó sử dụng Update Device Driver Wizard để cài đặt bộ phận điều khiển VGA của Windows.
3. Tắt máy PC.
4. Mở hộp hệ thống và gỡ bỏ thiết bị cũ. Nếu bạn muốn nâng cấp graphics card, hãy đặt thẻ mới vào đúng thời điểm này.
5. Khởi động lại máy tính và kiểm tra Device Manager. Nếu mục nhập của thiết bị cũ vẫn còn ở đó, hãy lặp lại thao tác tháo cài đặt một lần nữa. Đôi khi, bạn phải hơn một lần remove một thiết bị trước khi không còn sót một trace nào trong Windows.
Cài đặt từng thiết bị mới vào và sử dụng PC của bạn trong vài ngày sau mỗi lần cài đặt để phát hiện trục trặc. Có 5 điều bạn cần nhớ khi cài đặt:
1. Plug and Play không phải lúc nào cũng là phương pháp tối ưu để cài đặt một thiết bị. Một số driver đã có sẵn chương trình cài đặt riêng.
2. Nếu chỉ dẫn cài đặt không rõ ràng hoặc đưa ra hướng dẫn cho một model khác, hãy vào website của nhà sản xuất và tìm kiếm tài liệu cập nhật.
3. Hãy có được một update mới nhất của driver. Hãy kiểm tra website của người bán để có được các phiên bản mới hơn.
4. Đừng gián đoạn quy trình cài đặt vì có thể gây ra rắc rối cho bạn. Nếu bạn muốn huỷ bỏ việc cài đặt, trước hết hãy hoàn tất quy trình rồi mới tháo cài đặt driver.
5. Hãy chắc chắn rằng tất cả đinh vít trên card của bạn đã được xiết chặt. Những card không được vít chặt có thể bị trật ra khỏi rãnh.
Cũng có khi bạn cần Windows CD-ROM của mình khi PC đang chạy trong lúc bạn cài đặt phần cứng. Nếu bạn không tìm thấy đĩa này, hoặc không thể làm cho CD-ROM driver hoạt động, có thể bạn đã bị kẹt.
Để thao tác an toàn, hãy đặt một folder trên đĩa cứng của bạn, đặt tên nó là CABS và copy các tệp tin Windows' .cab (phiên bản nén của các tệp tin hệ điều hành Windows). Bạn chỉ việc copy các folder “win98” và “drivers” từ Windows CD.
Mười lời khuyên khi lắp đặt card nâng cấp
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 5/99
Để đạt được những kết quả tốt nhất thì hãy "ghi lòng tạc dạ" mười lời khuyên này. Tuy nhiên có theo hay không thì cuộc sống vẫn ngày càng trở nên đơn giản hơn. Chúng ta đã có máy tính. Chúng làm cho cuộc sống của chúng ta dễ dàng hơn bằng cách thực hiện công việc theo cách này mà không theo cách kia. Hãy chọn Plug and Play. Công nghệ này sẽ làm cho việc bổ sung thêm phần cứng mới của bạn đơn giản và nhanh chóng hơn - đặc biệt với Windows 98 - nhưng còn xa mới đạt đến mức bất kỳ ai cũng dùng được. Việc lắp đặt card mạng hoặc card tăng tốc video chẳng hạn, có thể gây ra hàng loạt hiệu ứng trong tranh chấp, ngay cả khi đã được lắp đặt đúng. Và một lắp đặt vụng về có thể làm bạn mất vài giờ, nếu không muốn nói là vài ngày, ngưng công việc. Bạn có thể tránh mọi cạm bẫy khi nâng cấp bằng cách làm theo những gì được gọi là mười lời khuyên sau đây.
1. Sao lưu trước khi thực hiện. Lắp đặt phần cứng thường kéo theo cả việc cài đặt phần mềm driver. Và nếu bạn vấp phải các trục trặc trong quá trình cài đặt, thì các tập tin quan trọng có thể bị thay đổi, hư hỏng, hoặc thậm chí bị xóa mất. Cho nên lúc nào cũng phải có trong tay bản sao lưu mới nhất cho dữ liệu. Lý tưởng hơn cả là có một bản sao hoàn chỉnh của đĩa cứng được cất giữ ở một nơi an toàn.Drive Image 2.0 của PowerQuest là phương tiện tốt nhất cho công việc này. Nếu không được như vậy thì ít nhất cũng phải sao lưu các tập tin hệ thống then chốt: system.dat, user.dat, system .ini, và win.ini (tất cả đều trong folder Windows) cũng như autoexec .bat và config.sys (trong folder gốc).
2. Làm công việc của người nội trợ. Việc cài đặt thường yêu cầu phải tiến hành các chọn lựa không rõ ràng và không trực giác, cho nên phải đọc kỹ tài liệu kỹ thuật. Thu thập các thông tin cài đặt như cổng COM, và đối với phần cứng không Plug-and-Play, thì tất cả các địa chỉ DMA và IRQ. Tiếp theo là vào Web site của sản phẩm đó, tìm hiểu thêm có phiên bản driver nào mới hơn không, và nếu có thì tải xuống. Nhưng phải thận trọng, nhiều hãng sẽ cung cấp phiên bản bêta của driver dùng cho card của bạn. Trừ trường hợp bạn có lý do chắc chắn để tin một driver bêta nào đó là ổn định, còn thì nên tránh. Chúng đều đang trong quá trình hoàn thiện và có thể chưa đủ chất lượng để hỗ trợ kỹ thuật. Nên khai thác kinh nghiệm của những người khác. Nếu có FAQ hoặc thông tin trên site của hãng đó, bạn hãy đọc kỹ để biết rõ các trục trặc và vấn đề thường gặp đối với card của bạn.
Hình 1: Cài đặt driver VGA của Windows trước khi loại bỏ card đồ họa cũ và lắp đặt card đồ họa mới.
3. Tham khảo ý kiến các chuyên gia. Nếu không tìm thấy các giải đáp thỏa mãn trên trực tuyến hoặc trong các tài liệu kỹ thuật, bạn nên gọi điện cho bộ phận hỗ trợ kỹ thuật của nơi cung cấp card trước khi bắt tay lắp đặt. Các kỹ thuật viên hỗ trợ này là nguồn khai thác tốt nhất về thông tin mới và các thủ thuật sửa chữa đối với các phần cứng đặc biệt. Thư viện lớn nhất về thông tin tìm hỏng đã được sưu tập và đặt trong KnowledgeBase trực tuyến của Microsoft (support.microsoft .com), và trong cơ sở dữ liệu mang tính kỹ thuật cao hơn là TechNet (www .microsoft.com/technet).
4. Trước hết phải loại bỏ các driver cũ. Nếu định thay card đang dùng, bạn hãy bỏ driver của card cũ trước khi lắp đặt card mới. Vào Device Manager (nhấn nút phải chuột lên My Computer.Properties, chọn tên thiết bị cũ, và nhấn nút Remove; hoặc bắt đầu từ Control Panel, chạy Add/Remove). Bạn sẽ không thể xóa bỏ được driver của card video, cho nên - để vượt qua trở ngại này - bạn nhấn kép chuột lên mục driver màn hình trong Device Manager, nhấn nút Update-Driver trên nhãn Driver và thay driver hiện hành của bạn bằng driver Standard VGA của Windows (hình 1).
5. Không bao giờ được ngắt nửa chừng quá trình cài đặt driver. Bằng mọi cách phải kết thúc việc cài đặt driver rồi sau đó mới hủy cài đặt nó - nếu cần. Ngưng cài đặt giữa chừng có thể làm thay đổi hoặc làm hỏng các tập tin hệ thống quan trọng. Và bạn cũng không thể hồi cố (undo) việc gây hỏng này bằng cách loại bỏ từng phần đã được cài đặt bằng tính năng Add/Remove hoặc bằng cách cài đặt lại driver đó.
6. Lắp đặt lần lượt từng card một. Nếu định bổ sung thêm nhiều card, bạn lắp một cái vào trước rồi thử cho chạy hệ thống trong một lát. Sau khi đã bảo đảm chắc chắn không có tranh chấp nào thì mới lắp card khác vào. Thực hiện kiểu này sẽ dễ cô lập và giải quyết các trục trặc xảy ra về sau.
7. Tiếp đất tốt. Tĩnh điện trên người bạn có thể phá hỏng các chip. Luôn nhớ tiếp đất bản thân bằng cách chạm tay vào một vật dẫn lớn đã được nối đất (bằng nhôm, thép). Nếu không có vật nào như vậy, chạm vào đế máy PC trong khi máy vẫn còn cắm vào ổ điện có tiếp đất.
8. Nhẹ nhàng nhưng chắc chắn. Phải hết sức cẩn thận khi cắm card vào máy. Đôi khi cũng cần ấn mạnh, dứt khoát để cắm card vào khe cắm mở rộng.
9. Vặn chặt vít. Luôn nhớ gắn chặt giá đỡ của card vào khung PC. Mặc dù card như đã nằm đúng chỗ một cách chắc chắn, nhưng vẫn có thể dễ bị long và gây ra mọi loại trục trặc.
10. Giữ lại card và phần mềm cũ. Quy luật Murphy về lắp đặt: Sau khi đã vứt bỏ một vật sẽ có ngày bạn lại cần đến nó.
Mạnh Cường
US PC World 5/99
10 thủ thuật đối với Modem
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 11/99
1. Cập nhật driver mới nhất
Trước hết và tốt nhất, bạn phải chắc rằng mình có các driver mới nhất cho modem của mình. Các driver này thường có ở trang Web của nhà sản xuất. Nếu không biết chính xác địa chỉ trang Web của nhà sản xuất, bạn đọc kỹ tài liệu kèm theo modem để tìm tên chip dùng cho modem. Bạn có thể vào trang Web của nhà sản xuất bằng cách gõ tên của loại chip vào ô địa chỉ trong trình duyệt.
2. Phục hồi các thiết lập ban đầu
Nếu modem của bạn không hoạt động, hãy thử dùng lệnh AT&F1 hoặc ATZ. Lệnh AT&F1 thường phục hồi cấu hình khi xuất xưởng modem, còn ATZ thường đặt lại cấu hình mặc định (default).
3. Không có tín hiệu và âm thanh của modem
Nếu bạn không thể nghe được tín hiệu, hãy cắm lại jack nối với đường dây điện thoại và kiểm tra xem đã chỉnh âm lượng đủ lớn để có thể nghe được âm thanh phát ra từ modem chưa. Nếu modem nhận được tín hiệu và gọi đi được nhưng không thể kết nối thì nguyên nhân phần nhiều là từ phía modem mà bạn đang kết nối tới.
Để điều chỉnh âm lượng của modem, vào Control Panel/Modem, chọn Properties và điều chỉnh thanh trượt. Nếu vẫn không thể kết nối được, hãy thử quay một số khác để kiểm tra.
4. Dây nối ngắn
Nếu có thể được, hãy dùng dây nối càng ngắn càng tốt, vì dùng dây dài, tín hiệu nhận được sẽ kém, cũng có nghĩa là kết nối sẽ chậm hơn.
5. Hãy để modem được riêng biệt
Không nên cắm điện thoại vào chấu cắm Phone trên modem, điều đó có thể làm ảnh hưởng tới các kết nối Internet/Fax/BBS. Đối với một số modem, khi bạn cắm điện thoại vào, nó chỉ có thể kết nối được ở tốc độ 31.200? Nhưng khi bạn rút điện thoại ra nó lại đạt tốc độ 33.600?
6. Chỉnh thông số MTU cực đại
Một số người nhận thấy rằng tác vụ truyền file trên Internet khá chậm, thường chỉ trong khoảng 900 -1800 ký tự (character), ngay cả với modem 56K. Nguyên nhân có thể liên quan đến một thông số của Win95/98 gọi là Maximum Transmission Unit (MTU). Hãy nhìn vào mục "Bytes received/sec" trong System Monitor và so sánh thông số đó với thông số mà trình duyệt Web của bạn thông báo. Hai số này chỉ nên khác nhau trong khoảng 10%-12%. Nếu thông số do System Monitor thông báo là 3300 thì thông số còn lại phải vào khoảng 3000. Nếu như 2 thông số này sai lệch quá nhiều thì có thể là do thông số MTU của Windows 95/98. Microsoft vẫn chưa đưa ra chương trình nào để sửa thông số này, nhưng bạn có thể tải về từ địa chỉ: http://www.aimnet.com/Aạjnavas/modem/tcpipcfg.exe.
7. Bộ đệm lớn hơn
Trong bất cứ tác vụ truyền dữ liệu nào cũng sẽ có một phần dữ liệu bị mất đi trên đường truyền và không có cách nào để lấy lại được. Nhưng bạn có thể tăng tỷ lệ nhận tín hiệu chính xác bằng cách bổ sung thêm một dòng lệnh vào file SYSTEM.INI. Có điều trước khi bắt đầu, bạn cũng nên biết cách Windows điều khiển luồng dữ liệu tới như thế nào. Modem của bạn gửi dữ liệu tới trình điều khiển COMM của Windows, trình điều khiển này lưu dữ liệu vào một vùng đệm cho tới khi chương trình truyền thông của bạn lấy lại. Nhưng thật không may là công việc này chỉ được làm khi chương trình rảnh rỗi, kết quả là nó không thể lấy được dữ liệu từ trình điều khiển COMM thường xuyên như yêu cầu.
ở chế độ mặc định, Windows chỉ dành ra một phần bộ nhớ có khả năng lưu trữ 128 ký tự (character). Nhưng một khi modem đã được nối mạng thì dòng dữ liệu đi vào máy bạn một cách liên tục. Máy tính có thể tạm thời ngừng dòng dữ liệu đi vào này, nhưng làm như vậy sẽ mất thời gian nên dữ liệu vẫn tiếp tục đi vào mà không được lưu giữ ở bộ đệm của trình điều khiển COMM. Nếu kết nối của bạn chậm hoặc chương trình truyền thông nhanh thì bộ đệm chứa 128 ký tự có thể đủ, nhưng nếu ngược lại thì lượng bộ nhớ đệm đó sẽ là quá nhỏ.
Bạn có thể khắc phục được vấn đề này theo cách sau:
+ Mở file SYSTEM.INI bằng một trình soạn thảo văn bản.
+ Tìm mục [386enh]
+ Thêm dòng có dạng như sau: COMxBuffer=num
trong đó "x" là một số từ 1 tới 4 cho biết tên của cổng COM mà modem của bạn sử dụng, còn "num" là số trong khoảng 128 tới 10.000 để xác lập độ lớn của bộ đệm. Thường bạn nên đặt ở giá trị 10.000. Sau đó nếu trong thời gian tải file về mà tốc độ truyền bị giảm dần thì hãy đặt một số nhỏ hơn cho đến khi vừa ý.
Bạn cần phải khởi động lại Windows để xác lập này có tác dụng.
8. Tiếp thêm sức mạnh cho các cổng COM
Thông thường, Windows 95/98 đặt cấu hình cho các cổng COM ở tốc độ 9.600bps, nhưng nếu bạn sử dụng modem 14,4 Kbps thì nên tăng trị số này.
Mở Control Panel/System, kích chuột vào tab Device Manager, mở rộng nhánh Ports, nhấn đúp chuột vào mỗi cổng COM, chọn thanh Port Setting và thay đổi thông số "Bits Per Second" lên ít nhất là 57.600 (hình 2), sau đó nhấn nút Advanced và đánh dấu chọn "Use FiFO buffers [requires 16550 compatible UART]".
9. Truyền dữ liệu nhanh hơn và tăng tốc kết nối
Với Windows 95/98, mở Control Panel/Modem, chọn nút Properties; trong thanh General, chọn "Maximum Speed" là 115.200; trong thanh Connection, chọn Advanced và đánh dấu chọn "User Error Control", "Compress Data" và "Use Flow Control (Hardware)".
10. Giảm thiểu nhiễu đường dây điện thoại
Nhiễu (tiếng ồn) đường dây điện thoại là một trong những yếu tố dễ phát hiện nhất. Nhiễu đường dây không phải là vấn đề với các modem thuộc loại ISDN, DSL hoặc modem cáp mà với loại đường dây điện thoại kiểu tuần tự (analog), như ở nước ta thì nó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kết nối chậm.
Để kiểm tra mức độ tiếng ồn, bạn nhấc ống nghe lên và lắng nghe âm thanh. Có thể bạn sẽ nghe thấy các âm thanh rè rè khác nhau và khác âm thanh tín hiệu, đó có thể là do chất lượng dây điện thoại kém, do hơi nước hoặc một vài nhân tố khác. Cách tốt nhất để giảm bớt tiếng ồn đường dây là cố gắng sử dụng dây điện thoại càng ngắn càng tốt, nếu vẫn không được hãy gọi nhân viên sửa chữa điện thoại của Bưu điện đến để kiểm tra chất lượng đường dây.
7 cách nâng cấp PC
Xem bai viet bang font ABC
PC World VN 1/1999
Cho dù là CPU hay ổ CD-ROM, modem hay bộ nhớ, việc nâng cấp có thể là cần thiết nhưng đôi lúc lại không.
Cỗ máy 486 cũ kỹ của bạn dường như có thể làm việc không nghỉ, nhưng nó không thể chạy Windows 98. Còn chiếc Pentium-133 mà công ty mua hai năm trước đã tỏ ra uể oải, đặc biệt là khi bạn nạp Office 97. Những ứng dụng phổ biến nhất đều bảo đảm giúp bạn nâng cao năng suất làm việc, nhưng với điều kiện chúng không buộc máy tính của bạn phải chào thua ngay từ đầu.
Bạn hiểu cần phải có máy tính mới. Ai lại chẳng cần? Nhưng có lẽ nên tiêu số tiền đó vào chuyến du lịch Paris thay vì mua một máy PII-450. Nếu chỉ nâng cấp một số bộ phận chọn lọc trong máy, bạn có thể nâng cao sức mạnh của máy lên một ít mà vẫn còn đủ tiền để tản bộ trên quảng trường Elysées.
Tuy nhiên, nâng cấp cũng có giới hạn. Trong thời buổi có thể mua một máy Pentium II mới với giá dưới 1000 USD, bạn chẳng nên bỏ ra quá 200 USD để xào nấu lại một hệ thống đã cũ. Ráng tăng thêm chút bộ nhớ hay mua hẳn một máy mới với những con chip cáu cạnh, đằng nào khôn ngoan hơn? Một video card nhanh hay modem 56-kbp thần tốc có thể giúp bạn làm việc tốt hơn không? Hoặc một ổ cứng lớn hơn thì sao? Hay một bộ DVD-ROM? Một cổng USB?
Trong bài hướng dẫn nâng cấp máy tính này, chúng tôi sẽ giúp bạn quyết định phải tập trung công sức và tiền bạc vào đâu, hay liệu có thể không cần nâng cấp gì cả chăng. Chúng tôi cho bạn cái nhìn tổng quan về những cải tiến chủ chốt trong hệ thống: bộ nhớ, CPU, lưu trữ, card đồ họa, modem, và nhiều thứ nữa. Bạn hãy xem qua toàn bộ danh mục lựa chọn của chúng tôi để hình dung giải pháp tốt nhất cho hoàn cảnh của bạn, sau đó nghiên cứu kỹ các bảng tóm tắt để nắm rõ những thách thức về kỹ thuật mà bạn sẽ phải giải quyết.
Dù bạn muốn chạy phiên bản mới nhất của Microsoft Office, chuyển sang Windows NT hay chỉ cần chơi Quake II, chúng tôi sẽ giúp bạn quyết định cần nâng cấp bộ phận nào trong máy, bộ phận nào thì cứ để yên vị. Còn khoản tiền tiết kiệm được, cố nhiên là tự bạn quyết định sẽ tiêu vào việc gì.
Nâng cấp bộ nhớ
Vì giá của RAM hệ thống hiện đang thấp chưa từng có, nâng cấp hữu hiệu mà ít tốn kém nhất chính là nâng cấp bộ nhớ. Dù bạn đang dùng máy Windows nào đi nữa, việc nâng cấp bộ nhớ sẽ làm chạy nhanh hơn thấy rõ. Có thêm RAM mới, máy tính sẽ bớt chậm do phải lệ thuộc vào bộ nhớ ảo, vốn là biện pháp để buộc ổ cứng đóng vai trò bộ nhớ thay thế khi RAM không còn chỗ trống. Nhờ có RAM mới, dữ liệu được xử lý nhanh hơn, các thành phần khác trong hệ thống như CPU và card đồ họa có thể làm việc hết khả năng tiềm tàng chứ không phải chầu chực chờ đĩa cứng.
Nếu đang ì ạch trên một máy 486 chỉ có 8MB RAM, bạn nên nâng cấp lên ít nhất 16 MB; và nếu lên hẳn 32 MB thì Windows 95 sẽ còn chạy tốt hơn nữa. Nếu thêm 16MB RAM vào một hệ Pentium đã có sẵn 16MB, máy sẽ chạy tuyệt vời mà bạn chỉ mất không đầy 50 USD. Và nếu bắt đầu từ 32MB, bạn có thể cần tăng lên 64MB, mà thêm 32MB còn rẻ tiền hơn một bữa tối cho hai người ở nhà hàng sang trọng. Và nếu muốn chạy nhiều ứng dụng cùng một lúc, đặc biệt là các phần mềm ngốn nhiều RAM như Microsoft Power Point hay Lotus Notes, bạn sẽ thấy có thêm bộ nhớ quả là hay hơn nhiều.
Bộ nhớ khác nhau
Trước khi nâng cấp, cần biết chính xác mình đang có loại bộ nhớ nào và cần thay bằng cái gì. Cách dễ nhất là gọi Web site của một nhà sản xuất lớn về bộ nhớ, chẳng hạn Kingston Technology (www .kingston.com) hay Crucial Technology (www.crucial.com). Chỉ cần nhập vào nhãn hiệu và model của máy bạn, site đó sẽ cho biết máy bạn dùng loại RAM nào và báo giá cho nó. Hầu hết các máy Pentium và một số Pentium MMX đều có EDO RAM được tổ chức trên một môđun bộ nhớ 72 chân một hàng (single inline). Bạn phải lắp đặt các SIMM theo cặp; vì vậy, muốn nâng cấp lên 32MB chẳng hạn, bạn cần có hai SIMM 16MB. Các hệ Pentium MMX mới hơn và hầu hết hệ Pentium II đều dùng những SDRAM nhanh hơn, được lắp trên môđun bộ nhớ 168 chân hai hàng (dual inline), và bạn có thể lắp mỗi lần một DIMM. Nếu là máy loại 486 cũ, có lẽ bạn đang dùng SIMM 32 chân chứa Fast Page Mode DRAM loại cũ.
Trong khi hầu hết các hệ Pentium II và Pentium Pro đều dùng bộ nhớ loại parity hay error correcting code để phát hiện những dữ liệu bị hỏng, nhiều hệ Pentium và Pentium MMX lại dùng bộ nhớ non-parity đơn giản hơn. Bạn cần xác định rõ kiểu bảo vệ dữ liệu trong RAM hiện tại của mình là dạng nào và bảo đảm bộ nhớ mới tương hợp với nó. Bạn có thể tự biết bằng cách đếm số chip trên môđun bộ nhớ. Nếu thấy một bên có chín con chip, đây hẳn là loại bộ nhớ parity hay tự sửa lỗi, không thì nó thuộc loại non-parity.
Tốc độ của RAM
Một số hệ Pentium MMX có kèm EDO DRAM nhưng bao gồm cả một cặp ổ cắm DIMM để có thể gắn các SDRAM nhanh hơn. Trong khi một số bo mạch chủ có thể chạy với cả SIMM lẫn DIMM cùng một lúc, bạn có thể tránh những trục trặc có thể phát sinh cũng như làm chậm hệ thống bằng cách chỉ gắn một thứ mà thôi. Nếu đang có bo mạch chủ 100MHz - kể cả Pentium II-350 và CPU AMD K6-2-350, bạn cần thận trọng khi gắn SDRAM mới vào máy. Bus nhanh hơn thì cần bộ nhớ tinh vi hơn, thường gọi là PC100 SDRAM. Còn PC66 SDRAM, vốn chậm hơn, rất có thể không chạy được nếu gắn vào bo mạch chủ nhanh hơn.
Tóm lại, dù muốn chạy chương trình minh họa, dùng bảng tính dày đặc đến hoa cả mắt hay chơi những game mới nhất, bạn chỉ cần thêm bộ nhớ là có thể tăng tốc cho chiếc máy cũ của mình được rồi.
Tăng cường bộ xử lý
Máy chậm quá, bạn muốn tăng tốc phải không? Thay CPU xem chừng là một ý hay, nhưng thường thì chẳng đáng làm vậy.
Vào cái thời một máy tính mới có giá ít nhất hai ngàn USD thì bỏ ra 200 đến 350 USD để nâng cấp CPU hãy còn hợp lý. Nhưng hiện nay cách đó không còn hấp dẫn nữa. Máy 486 và Pentium đời đầu vốn cần CPU mới hơn hết, cũng chính là những máy ít có khả năng chạy với CPU mới hơn cả. Thậm chí dù có nâng cấp BIOS để có thể chạy CPU mới hoặc ngậm đắng nuốt cay mà cài hẳn một bo mạch chủ mới, bạn vẫn cứ phải dùng một đĩa cứng nhỏ, RAM chậm rì và một video card đáng đưa vào hiệu đồ cổ. Dù có mua được CPU mới với giá bèo nhất đi nữa thì tân trang lại bộ đồ lề cũ rích vẫn là lợi bất cập hại.
Trong trường hợp nâng cấp CPU, ứng viên số một là các hệ Pentium 75-MHz, 90-MHz và 100MHz nếu chủ nhân chúng không đủ tiền mua máy mới. Nhưng Pentium hiện có của bạn càng cao cấp, bạn càng ít có lợi hơn nếu thay CPU mới. Và đừng có ý định gắn bộ xử lý Pentium II mới nhất vào hệ Pentium cũ đang dùng. Các CPU Pentium II và Celeron của Intel không cắm được vào ổ cắm chuẩn bộ xử lý Pentium hay Pentium MMX của bạn.
Chọn CPU
Nếu vẫn nhất quyết nâng cấp, bạn sẽ phải chọn một trong hai cách: hoặc mua một bộ nâng cấp hoặc chỉ mua CPU. Các bộ nâng cấp như MxPro-233 của Evergreen Technologies (199 USD, www.evergreen.com) và 200-MHz Pentium OverDrive với công nghệ MMX của Intel (199USD, www.intel.com) thích hợp với các hệ Pentium cũ và bao gồm mọi thứ cần thiết cho việc nâng cấp: CPU mới, quạt làm mát, hộp nóng (heat sink) và phần mềm để đánh giá và thực hiện tương thích với BIOS trong hệ. Nếu CPU hiện có của bạn gắn vào một môđun Socket 5, bạn sẽ cần một bộ nâng cấp trong đó có bộ chuyển điện thế chẳng hạn như MxPro. Bạn có thể tiết kiệm vài đồng bằng cách chỉ mua con chip, nhưng vẫn phải mua quạt làm mát và phải bảo đảm rằng CPU mới chạy được trong bo mạch chủ của bạn.
Tốc độ xung nhịp (clock) đóng vai trò quan trọng trong bất kỳ sự nâng cấp nào. CPU chạy càng nhanh, máy của bạn làm việc càng ngon lành. Đồng thời, nếu nâng cấp sao cho mở rộng được cache sơ cấp (L1) của CPU thì rất tốt, bởi bộ nhớ nhanh này có thể bù cho những bộ phận chậm hơn như RAM.
Nếu bạn có hệ Pentium Pro, hãy tính đến chuyện mua bộ Pentium II OverDrive Processor của Intel dành cho máy Pentium Pro; bộ này cho phép bạn nâng tốc độ đồng hồ lên đến 333MHz (cao hơn giới hạn 200-MHZ của Pentium Pro). Việc nâng cấp sẽ bổ sung các chỉ thị MMX và lõi PII để Windows 95 chạy nhanh hơn. Có điều giá hơi cao: những 550 USD. Tuy nhiên, nó sẽ tiếp sức sống mới cho các máy PC già nua.
Kể từ đầu năm 1999, Evergreen sẽ phục vụ nâng cấp CPU trên một PCI card, nghĩa là bất cứ máy tính nào chấp nhận card PCI (kể cả một số máy 486) đều có thể nâng cấp lên Pentium II. Giá cả sẽ thay đổi, nhưng dù sao bạn vẫn có thể nâng cấp lên Celeron có 64MB RAM mà chỉ tốn từ 350 đến 500 USD.
Giải pháp đĩa cứng
Hệ điều hành Windows 98, các ứng dụng như Microsoft Office, và các tập tin dữ liệu cứ mãi phình ra không ngừng, tất cả những thứ đó đều ngốn không gian đĩa. Điều này có nghĩa là đĩa cứng 2GB của bạn, mới năm ngoái dường như quá lớn, giờ xem chừng đã bắt đầu chật chội.
Nếu máy bạn là loại tương đối mới và đã hết chỗ chứa thì bổ sung ổ cứng là một ý tưởng rất hay. Bạn thật may mắn: đã xuất hiện thế hệ ổ cứng mới dung lượng vừa lớn vừa chạy nhanh mà giá lại chưa bao giờ "mềm" như hiện nay. Bạn có thể bỏ ra 150 USD để sở hữu một ổ 4GB, nhưng tội gì không thêm 50 USD nữa mà có thể sải một bước dài và tha hồ tung hoành về sau? Hiện các ổ cứng 6,5GB như Medalist Pro 6530 của Seagate (www.seagate.com) đang là cái đinh trên thị trường ổ cứng, giá khởi điểm không đầy 200 USD.
Mở rộng không gian đĩa
Nếu chừng đó vẫn chưa đủ không gian cho bạn, còn có nhiều thứ khác để bạn chọn. Bỏ ra chừng 200 USD mua được ổ cứng 8 GB; còn nếu bạn thật sự cần kho lưu trữ khổng lồ, đã có các ổ cứng từ 10GB đến 12GB giá từ 250 đến 350 USD. Giá cả này là cho ổ EIDE, chuẩn cho hầu hết máy tính để bàn. Nếu bạn cần ổ đĩa SCSI, hãy chuẩn bị rút hầu bao thêm 30% đến 50% nữa, cộng với 100 - 200 USD cho card điều khiển SCSI (controller). Nhưng cần biết rằng hầu hết ứng dụng văn phòng thông thường cho máy để bàn, nếu dùng với SCSI thì cũng chẳng tốt hơn lên bao nhiêu. Ôổ này chỉ thật sự đắc địa nếu dùng với các ứng dụng chuyên nghiệp tốn nhiều đĩa, như đồ họa, hoặc server trên mạng.
Lắp đặt ổ cứng mới là một trong các nâng cấp phổ biến nhất và là sự đầu tư có ích vào máy tính. Nhưng bạn hãy thực tế: nếu máy bạn là 486 hoặc Pentium các đời đầu thì nâng cấp chẳng có lợi gì lắm, bởi những chip này không chạy kịp với tốc độ lưu chuyển dữ liệu cực nhanh của các ổ cứng đời mới nhất, thành thử lại vô hiệu hóa chính thế mạnh của ổ cứng là tốc độ. Nếu đó là trường hợp của bạn, có lẽ đã đến lúc cần đầu tư mua hẳn một hệ mới.
Một khi bạn vẫn quyết định nâng cấp ổ cứng, hãy cân nhắc kỹ lưỡng kinh nghiệm và kỳ vọng của mình. Nếu mới làm quen với máy tính, chưa gì đã ngán ngẩm nghĩ đến việc cầm ốc vít, hoặc nếu quá vụng tay vụng chân, hãy để một dịch vụ máy tính làm giúp cho bạn. Mặt khác, nếu bạn thành thạo máy tính thì lắp ổ đĩa mới chẳng phải việc gì khó. Hiện nay các bộ nâng cấp ổ cứng đều có kèm theo chỉ dẫn từng bước cũng như dụng cụ lắp đặt và cáp. Thậm chí các bộ nâng cấp còn có một phần mềm giúp loại trừ hoàn toàn những khó khăn vì không tương thích với các hệ cũ hơn và tự động hóa việc chuyển dữ liệu từ ổ cũ sang ổ mới.
Nếu máy của bạn chưa tới một năm tuổi, có thể nó có một giao diện UltraDMA cài sẵn, đôi khi gọi là UltraATA hay AT-4, hoạt động tuyệt hảo với các ổ UltraDMA hiện nay. Bạn có thể gắn ổ UltraDMA vào một EIDE chuẩn - là giao tiếp thường có trong các máy tính sản xuất trong vòng ba bốn năm trở lại đây, nhưng hiệu quả sẽ không được tối đa như với ổ UltraDMA. Các máy tính cũ hơn cần nâng cấp BIOS thì mới có thể chạy với UltraDMA; bạn hãy kiểm tra lại với nhà sản xuất. Nếu máy của bạn không có giao tiếp UltraDMA (xem lại trong chỉ dẫn kèm theo máy), bạn bỏ ra thêm 60 - 80 USD mua một card UltraDMA để gắn thêm vào, ổ đĩa mới sẽ hoạt động hoàn hảo ngay.
CD hay DVD
Ngày nay đĩa CD có lẽ đã trở nên quen thuộc với hầu hết chúng ta. Nếu muốn cài đặt Microsoft Office 97, hay chơi You Don't Know Jack hoặc đơn giản chỉ nghe bản Giao Hưởng Số 9 của Beethoven trong khi làm việc, bạn cần phải chạy đĩa CD. Điều này có nghĩa là bạn phải có một ổ CD-ROM. Nhưng nếu muốn xem phim trên máy vi tính, hay tự làm phim hoặc chuẩn bị hệ thống để sẵn sàng tiếp nhận những phần mềm thế hệ mới, bạn cần phải nâng cấp ổ đĩa.
Hệ thống của bạn có lẽ đã có sẵn ổ CD-ROM chạy với tốc độ 4X hay nhanh hơn, và có thể bạn đã thử nâng lên ổ 32X hay 40X rẻ tiền. Nhưng thử nghĩ mà xem: thực ra, mọi đầu CD-ROM đều được viết cho ổ 2X hoặc 4X, do đó mua một thiết bị nhanh hơn cũng chẳng làm ứng dụng chạy tốt hơn. Lý do chính đáng để mua một ổ CD mới là ổ cũ của bạn đã chết ngắc mà bạn lại không có tiền, không có thì giờ, hoặc bạn muốn lắp một ổ DVD-ROM thay cho CD-ROM. Một ổ CD-ROM 32X rẻ tiền giá chỉ có 50 USD mà vẫn có thể giúp bạn quay đĩa trong khi tạm thời chưa mua được máy mới có lắp sẵn ổ DVD-ROM.
Tương lai là DVD-ROM
Nếu bạn mua máy Pentium trong khoảng hai năm trở lại đây thì cách hay hơn nhiều là bỏ ra từ 200 đến 350 USD mua một ổ DVD-ROM có thể đọc cả các CD cũ lẫn đĩa phim, trò chơi và nhiều thứ khác bằng DVD. Quả thật là ngoài phim và dăm ba đĩa giải trí ra thì hiện ít có đĩa DVD nào khác, tuy nhiên, do ngày càng nhiều máy tính mới có kèm ổ DVD-ROM, tình hình này sẽ thay đổi.
Nâng cấp DVD thường phải dùng một bộ, chẳng hạn Sony DDU220E/H (giá 349 USD, www.sony.com), gồm cả card giải mã (decoder card) MPEG 2 để chạy phim video DVD. Card giải mã là thứ không thể không có, mặc dù nó làm đội giá ổ đĩa lên khoảng 100 USD. Dùng bộ giải mã MPEG 2 kiểu phần mềm thì chỉ có thể cho ra những phim video "chập chờn" nếu máy của bạn thấp hơn Pentium II-350 (và ngay cả với máy Pentium II-450, vẫn thấy tình trạng "chập chờn" nếu bạn làm một việc khác trong khi DVD đang xem phim. Vì vậy, trừ khi máy của bạn đã có phần cứng MPEG lắp sẵn, nếu không, đừng chần chừ gì nữa, hãy mua một bộ nâng cấp có bao gồm cả card giải mã). Cần nhớ rằng việc lắp đặt có thể khó khăn: nào là một card giải mã và một ổ DVD-ROM, trình điều khiển (driver) cho cả hai thứ đó, lại còn kết nối âm thanh giữa card MPEG với card âm thanh, trong quá trình lắp đặt có thể phát sinh lắm chuyện đau đầu.
Nghe đĩa của chính bạn
Nếu muốn có một ổ đĩa cho phép bạn vừa ghi vừa xem dữ liệu trên đĩa, tình huống có thể còn phức tạp hơn nữa. Bất cứ ai, một khi nghĩ đến chuyện sáng tác hay phổ biến âm nhạc, tác phẩm đồ họa, phim video hoặc phần mềm, tất phải tính đến việc mua một ổ CD-R hay CD-RW. Cả hai đều cho phép bạn tự tạo những đĩa CD-R 500MB có thể chạy trên bất cứ ổ CD-ROM nào. Đúng là bạn có thể tự sản xuất đĩa nhạc của chính mình. Các ổ CD-RW còn cho bạn xóa và dùng lại dữ liệu trên những đĩa đặc biệt có thể ghi lại được. Đĩa này đắt hơn, mỗi cái chừng 20 USD so với đĩa CD-R chỉ có 5 USD hoặc thấp hơn. Nhưng bởi vì bạn có thể dùng lại các đĩa CD-RW nên có đắt một chút cũng đáng. Năm ngoái, các ổ CD-RW như CD-Writer Plus 72001 của Hewlett-Packard (giá 399 USD; www.hewlett-packard.com) đã giảm giá xuống bằng ổ CD-R (từ 350 đến 650 USD), nên hiện nay càng có ít lý do để bạn mua ổ CD-R.
Nhưng ngay cả dung lượng dữ liệu 500MB của đĩa CD-R hiện nay hoá ra cũng không nhiều. Muốn có kho dữ liệu tối đa có thể xóa được, bạn phải chi từ 400 - 800 USD để mua ổ DVD-RAM; nó cho phép lưu tối thiểu 2,6GB mỗi hộp (cartridge). Chỉ có một vấn đề: cartridge DVD-RAM không thể chạy trong thiết bị nào khác ngoài ổ DVD-RAM. Đồng thời ổ DVD-RAM lại không thể ghi dữ liệu vào vật mang nào khác, mặc dù chúng có thể chơi cả CD-ROM, CD lẫn DVD. Do đó, nếu bạn mua ổ DVD-RAM hay một trong các biến thể của nó, đừng mong dùng cartridge DVD-RAM ở đâu khác ngoài chính ổ đĩa của mình, nên bạn không thể đút cartridge vào túi quần rồi đi nhét vào ổ DVD-RAM nào cũng được. Nhưng chưa hết: chuẩn DVD-RAM vẫn có đối thủ, chủ yếu là DVD-RW, một chuẩn 3GB do Hewlett-Packard, Philips và Sony hỗ trợ. Nếu không cần bổ sung kho dữ liệu ngay bây giờ, bạn hãy cứ bằng lòng với ổ CD-RW chừng nào một trong các chuẩn DVD-RAM đang cạnh tranh hiện nay chưa thật sự nổi trội lên.
Đồ họa nhanh
Nâng cấp video card là một ý tưởng có vẻ hay, chừng nào bạn chưa xem xét thấu đáo hơn. Thực tế là nếu card đồ họa của bạn chưa tới hai năm tuổi và bạn ít quan tâm đến trò chơi, ảnh kỹ thuật số, quay video hay xem tivi trên máy tính, thì thay card có lẽ chỉ là vung tiền qua cửa sổ. Với những ứng dụng thông thường như xử lý văn bản, bảng tính, thậm chí trình diễn (presentations) đồ họa, thì dù sử dụng card nhanh nhất hay chậm nhất bạn cũng chẳng thấy có gì khác nhau. Tìm đúng card đồ họa bạn cầnDẫu vậy, với một số người, dùng đúng card đồ họa là chuyện khác hẳn. Nếu cần xem hay xử lý ảnh, bạn phải có card đồ họa đủ bộ nhớ mới có thể hiển thị ảnh màu 24 bit ở đúng độ phân giải bạn muốn.Để xác định bạn cần card đồ họa có bộ nhớ bao nhiêu, hãy chú ý thật kỹ khi máy khởi động: dòng graphic card BIOS cho thấy rõ số dung lượng bộ nhớ. Nếu muốn chạy ở độ phân giải 800 x 600, bạn cần ít nhất 2MB bộ nhớ video mới có thể hiển thị ảnh màu 24 bit; còn nếu muốn độ phân giải cao hơn nữa (1024 x 768 hay 1280 x 1024) thì 4MB mới đủ. Card 8MB sẽ cho bạn thoải mái chọn độ phân giải tới 1600 x 1200, hầu như chỉ dành riêng cho các ứng dụng CAD hay đồ họa cao cấp làm việc với màn hình 21 inch và lớn hơn. Số RAM thừa không dùng để hiển thị hình ảnh có thể giúp tăng một phần tốc độ xử lý nhờ lưu dữ liệu tốt hơn. Hầu như mọi card đồ họa mới như STB Velocity 128 (giá 99 USD) có ít nhất 4MB bộ nhớ video; nhiều card khác như ATI XpertYỵPlay98 (giá 95 USD; www.atitech.com) có tới 8MB.
Bạn có thể nâng cấp video RAM trên hầu hết các loại card đồ họa, nhưng mua card mới có nhiều bộ nhớ hơn thì hay hơn nhiều, đặc biệt là khi card hiện tại của bạn đã quá hai năm tuổi. Các nhà sản xuất card đều đặn nâng giá mỗi lần nâng cấp bộ nhớ của mình. Bạn có thể may mắn tìm được bộ nhớ của nhà sản xuất thứ ba tương thích mà giá lại phải chăng; tuy nhiên, lắp đặt được nó mà không phải bẻ cong các chân hoặc không làm hỏng đế cắm nào là cả một thách thức, đó là chưa kể dùng nó bạn chẳng được bảo hành gì hết. Chỉ những người sành sỏi về kỹ thuật nếu tìm được giá nâng cấp hợp lý mới dám làm kiểu này. Nếu bạn không phải người như thế, hãy ngậm bồ hòn làm ngọt mà mua hẳn một card mới vậy.
Hoàn thiện hình ảnh
Khi mua card đồ họa mới thì các trò chơi (game) vẫn là thứ được lợi nhiều nhất. Đó là do các nhà sản xuất luôn tối ưu hóa các game dành cho các chip đồ họa 3D (là bộ xử lý chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc tính toán những chi tiết hình ảnh 3 chiều). Tốc độ và mức phong phú của các chi tiết hình ảnh 3 chiều tùy theo bộ chip thuộc loại nào. Hiện nay, các loại card chứa bộ chip Voodoo2,
Làm việc với modem
Modem cáp, ASDL, và những công nghệ mới khác đang manh nha xuất hiện đều hứa hẹn một ngày kia có thể lướt Web "nhanh như ý nghĩ". Nhưng trừ khi bạn sống ở một trong số ít đô thị lớn, nơi những dịch vụ này đang được thử nghiệm, bằng không, bạn đừng vội mơ tưởng đến những điều chưa thể có ngay được đó. Hầu hết người dùng Internet, đặc biệt những ai sống ở vùng nông thôn, sẽ tự hài lòng với POTS (plain old telephone service, dịch vụ điện thoại cũ thông thường) trước một tương lai có thể nhìn thấy được.
Mua modem mới
Nếu bạn phát mệt vì cứ phải ngồi chơi xơi nước trong khi chờ modem 28.8 hay 33.6kbp ì ạch bò, nhất định đã đến lúc cần nâng cấp lên 56 kbp. Thật là may: hai công nghệ 56 kbp cạnh tranh nhau xưa nay (K56flex và x2) đã hợp nhất thành một chuẩn duy nhất gọi là V.90, và các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), tuy từ từ nhưng chắc chắn, đang chuyển đổi sang chuẩn này.
Tuy nhiên, nâng cấp modem 28.8 hay 33.6 đang dùng có thể khá rắc rối. Một số nhà sản xuất modem cho bạn tự nâng cấp lên V.90 bằng cách thay một cặp chip, hoặc có một chương trình đổi hàng có bù tiền cho phép bạn mua modem V.90 với giá hạ. Nhưng các chương trình này đang phá sản vì modem V.90 - cũng như mọi phần cứng máy vi tính khác - hiện đang giảm giá.
Giải pháp hợp lý nhất là hãy tặng modem cũ, chậm của bạn cho một trường học hay tổ chức từ thiện nào đó rồi mua modem hoàn toàn mới. Giá khởi điểm của modem V.90 lắp trong (internal) khoảng từ 80 USD, còn modem lắp ngoài như Diamond Multimedia SUpraExpress 56 giá khoảng 100 USD (www.diamondmm .com). Lắp đặt modem ngoài khá dễ, còn gắn modem trong thì tốn sức hơn một chút. Nếu không muốn tự làm, bạn hãy nhờ dịch vụ làm thay.
Nếu đã có một modem K56flex hoặc x2, bạn có thể nâng cấp lên chuẩn V.90 miễn phí bằng cách tải xuống một số phần mềm từ Web site của nhà sản xuất modem; phần mềm này thực hiện nâng cấp bằng cách lập trình lại một chip trong modem. Tuy nhiên, có một điều kiện: trước khi làm bước này, bạn cần phải biết nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) của bạn có hỗ trợ chuẩn V.90 hay không (hiện tại, các ISP tại Việt Nam chưa hỗ trợ chuẩn này). Sau khi nâng cấp, một số modem không thể tương thích trở lại với K56flex hay x2 nữa. Nếu ISP đã làm việc tốt với modem của bạn thì thôi; nâng cấp lên V.90 chẳng ích lợi gì nếu bạn không cần. Tính tương thích của V.90 thay đổi tùy theo nhà sản xuất và model; do đó bạn cần kiểm tra Web site của nhà sản xuất modem.
Kết nối tốc độ cao
Máy tính luôn chạy trơn tru, vẫn chưa đủ! Bạn còn phải làm sao cho các thiết bị đồng hành của nó cũng chạy tốt như thế. Nếu có một máy ảnh số, máy quét (scanner) và/hoặc thiết bị lưu dữ liệu ngoài, bạn sẽ gặp vấn đề: nhiều dụng cụ quá mà không đủ cổng nối. Tìm giải pháp nào bây giờ? Câu trả lời: bổ sung vài cổng nhanh (fast ports) vào.
May cho bạn, Universal Serial Bus cuối cùng đã đường hoàng bước vào cuộc, SCSI đang vững bước mạnh mẽ, và các nối kết 1394 "nhanh như ánh sáng" chẳng bao lâu nữa sẽ ra đời.
Bạn cần tốc độ nào?
Tuy vậy, đầu tiên bạn cần cân nhắc xem mình cần tốc độ bao nhiêu. Nhiều máy quay video để bàn, máy ảnh số và máy quét có độ phân giải thấp đòi hỏi một cổng USB. Nếu mua máy tính vào năm ngoái, có lẽ bạn đã có hai cổng USB mở, mỗi cổng có thể di chuyển 12MB dữ liệu mỗi giây ("nhanh như gió" so với cổng song song 1,2MBp). Đã đến lúc bạn cần dùng chúng. Nếu đang làm việc với một máy tính cũ hơn, bạn phải dạy nó một vài mẹo mới. Những bộ công cụ nâng cấp USB hiện nay rất rẻ. Bộ nâng cấp hai cổng PCI-4U USB của Entrega Technologies chẳng hạn, giá 40 USD (www.entrega.com) có thể đút lọt vào khe PCI trống trong một hệ chạy Windows 98.
Còn nếu bạn muốn nối vào một thiết bị cần giải băng rộng hơn, chẳng hạn một ổ đĩa ngoài hay máy quét có độ phân giải cao, USB chịu thua. Bạn cần một nối kết SCSI. SCSI 2 (loại nối kết SCSI phổ biến nhất) nhanh hơn USB từ hai tới ba lần. Với người dùng chưa có nối kết SCSI, nhiều thiết bị ngoại vi có cả một card SCSI kèm theo. Tuy vậy hãy thận trọng: card SCSI theo bộ có thể không phù hợp với các đặc tả (specifications) mới nhất, nên lắp đặt có thể hơi rắc rối và làm việc "lôm côm" nếu gắn vào những thiết bị SCSI khác mà nó được cung cấp đồng bộ. Tốt hơn là hãy tự mua lấy một card SCSI (giá khởi điểm từ khoảng 75 USD).
Độ rộng băng (bandwidth) của SCSI là một ưu điểm, nhưng thiết bị SCSI lại đắt hơn và khó lắp đặt hơn là thiết bị USB. Một hệ bus mới gọi là 1394 (aka FireWire) hứa hẹn cả công nghệ SCSI lẫn USB đều sẽ đáng đồng tiền bát gạo của bạn. Bus 1394 sẽ cho phép người dùng bổ sung nhiều thiết bị mà không cần khởi động lại hệ thống và tốn công sức. Nó cũng có thể truyền dữ liệu nhanh hơn USB tới 16 lần. Adaptec hiện đang bán một card kết hợp 1394/SCSI PCI giá 699 USD (www.adaptec.com), nhưng nếu mua nó bây giờ, bạn sẽ chỉ có thể dùng nối kết 1394 với dăm ba máy ảnh số mà thôi. Trong vài ba năm tới, giá sẽ hạ và khi đó bạn sẽ có thể mua các máy quét, ổ cứng và thiết bị ngoại vi khác tương thích với 1394
Bảo vệ CMOS
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 4/99
Máy tính đang chạy thông báo lỗi "CMOS Checksum Error". Máy bị hỏng. Tôi phải làm gì?
Thông báo lỗi CMOS (Complementary Metal - Oxide Semiconductor) này thuộc về một chip được nuôi bằng pin gắn trên bo mẹ dùng để lưu giữ các thông tin cấu hình phần cứng. Một số thông tin trong đó - ví dụ kiểu đĩa cứng mà bạn đã cài đặt - khá quan trọng. Đối với loại dữ liệu này bạn không hề muốn bị mất. Nếu không có trong tay những chương trình có thể sao lưu dự phòng các thông tin CMOS như Norton Utilities hoặc Nuts & Bolts, bạn phải in ra hoặc ghi lại các thông tin đó: vào chương trình cài đặt PC bằng cách nhấn phím hoặc một phím nào đó (thường được ghi trên màn hình) ngay khi đang xảy ra quá trình khởi động - trước khi Windows bắt đầu khởi động. Bạn vào từng màn hình của chương trình này và nhấn để in ra, hoặc ghi lại thông tin trong đó.
Về lỗi này: PC của bạn sẽ phát thông báo lỗi nếu nó cho rằng thông tin CMOS đã bị thay đổi mà không phải do bạn chủ động thay đổi. Virus, hết pin, hoặc một bất thường nhất thời nào đó có thể gây tình trạng này.
Khi nhận được thông báo lỗi này, bạn phải phục hồi lại các thông số cài đặt của CMOS. Nếu có đĩa Rescue Disk của Norton hoặc của Nuts & Bolts, hãy khởi động lại máy bằng đĩa khởi động khẩn cấp đó và thực hiện theo những chỉ dẫn của nó. Nếu sao lưu dự phòng được ghi trên giấy, bạn phải vào chương trình cài đặt hệ thống và phục hồi lại các thông số cài đặt bằng tay. Nếu không có sao lưu dự phòng, bạn tìm hiểu cấu hình của hệ thống thông qua tài liệu kỹ thuật của máy, hoặc hỏi nơi mua máy.
Khi đã nhập lại những thông tin này, bạn lưu lại những thay đổi và khởi động PC. Kiểm tra để bảo đảm mọi thứ đều hoạt động tốt, đóng Windows và tắt máy tính. Sau vài phút, bật máy trở lại. Nếu vẫn còn thông báo lỗi thì pin trong máy đã hết. Bạn phải mở nắp PC và thay pin mới - hoặc nhờ kỹ thuật viên làm việc này. Nếu pin được hàn lên bo mẹ, có lẽ bạn còn phải thay cả bo mẹ đó (tuổi thọ của pin máy tính khoảng năm năm).
Hình 2: Tạo ra một khung chứa chương trình DOS bằng việc xác định nó được tải vào như thế nào và những tập tin nào khác được tải.
Nếu trục trặc không phải do pin, bạn cập nhật chương trình chống virus mới nhất rồi thực hiện quét virus. Nếu chương trình quét không tìm thấy gì, thì hy vọng trường hợp hỏng CMOS này chỉ là một tai nạn ngẫu nhiên và sẽ không xảy ra lần nữa.
Xuân Cường
PC World Mỹ 4/99
Xem bai viet bang font ABC
Trong số các thành phần cấu thành máy tính, nếu CPU là yếu tố quyết định khả năng và tốc độ xử lý của hệ thống thì bo mạch chủ đóng vai trò tạo ra một môi trường hoạt động ổn định cho tất cả các thiết bị khác, kể cả CPU. Bản thân tên gọi motherboard cũng chứng tỏ điều này.
Bo mạch chủ, hay còn gọi là bo mẹ (motherboard) có ý nghĩa rất lớn trong cả hệ thống PC của bạn. Bạn có thể là chủ nhân của ổ đĩa cứng SCSI nhanh nhất, đầu DVD/CD-ROM tân kỳ, 64 MB SDRAM DIMM, BXL Pentium II 400MHz, card âm thanh Creative Sound Blaster Live, đồ họa Voodoo II và modem V.90 56kbps... nghĩa là những gì tốt nhất có thể.
Nhưng tất cả những thứ trên sẽ đều không có nghĩa lý nếu máy tính của bạn thường xuyên bị treo, chạy chập chờn. Đây là cơn ác mộng của nhiều người dùng máy tính mà có lẽ nguyên nhân chính là bạn đang có một bo mạch chủ chất lượng kém.
Thật không có gì tồi tệ hơn khi bạn vừa hoàn tất bản luận án 80 trang được trình bày tỷ mỉ với nhiều hình ảnh minh họa, và ghi thực hiện động tác lưu cuối cùng, máy tính đột ngột đưa ra thông báo lỗi "chết người", đại loại như "không thể lưu lên đĩa cứng bởi....", và sau đó hoàn toàn bất động trước mọi thao tác của bạn. Chỉ còn cách cuối cùng là tắt máy rồi bật lại. Kết quả thật thảm hại: tập tin Word của bạn giờ đây chỉ là rỗng tuếch với kích thước 0 byte. Tất cả những nỗ lực của bạn nhằm hồi phục lại tập tin đều vô nghĩa. Cũng từ đây, bạn mới hiểu được tác hại của một bo mạch chủ tồi.
Bài học về tốc độ
Đối với người tự lắp ráp máy tính, điều quan trọng là phải chọn đúng bo mạch chủ. Bởi nếu có trục trặc sau này, bạn phải tự mình xoay sở lấy mà không có sự hỗ trợ kỹ thuật nào. Bạn có thể đẩy tốc độ bus PCI lên đến 133MHz, nhưng khi đó đừng đòi hỏi nhà cung cấp đổi cho bạn bo khác trong trường hợp sự cố. Tốc độ quan trọng, nhưng tính ổn định có ý nghĩa lớn hơn. Có gì hay ho khi bạn lái xe với tốc độ 200km/h để chỉ đi được nửa quảng đường vì xe chết máy. Tốc độ của bo mạch chủ phải nhanh. Tuy nhiên sự ổn định và những đặc tính khác như khả năng hỗ loại CPU, chế độ tiết kiệm năng lượng, các đầu kết nối I/O và kiểm soát nhiệt độ.. đóng vai trò quan trọng trong việc bảo dưỡng hệ thống và đáng giá với chi phí bỏ ra.
Để minh họa, bạn hãy thử xem thử một máy server dùng cho LAN. Server và các phần mềm đi kèm không chỉ mạnh về cấu hình, tính năng mà nó còn báo trước được những sự cố sắp xảy ra, cho dù đó là đĩa cứng hay các vấn đề liên quan đến mạng, và thường là tự khắc phục chúng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự ổn định và độ tin cậy của một hệ thống. Bạn dể dàng nhận thấy là các máy PC xoàng xĩnh thường có nhiều thiết bị, tính năng phụ trợ bổ sung nhằm hấp dẫn người mua.
Thử nghiệm thực tế
Chúng ta cùng xem xét một số bo mạch sử dụng chip "Klamath", Pentium II của Intel. Đây không phải là những CPU mạnh nhất, và chúng sử dụng loại SDRAM DIMM 66MHz và thậm chí còn EDO DRAM SIMM/DIMM. Các bo mạnh dựa trên bộ chip 82440LX này không hỗ trợ AGP và có giá thấp trong số các bo mạch Slot 1. Các bo mạch mới loại Super Socket 7 (bus 100MHz) vừa được đưa ra có giá cao hơn. Loại bo mạch tân tiến và nhanh nhất sử dụng bộ chip Intel 82440BX AGP có thể chạy ổn dịnh ở tốc độ 100MHz và hỗ trợ AGP, SDRAM DIMM 100MHz và tính năng tự kiểm soát. Nhưng đối với các bạn, người tự lắp ráp máy tính, thì hay nhất có lẽ là đặc tính tự phát hiện và tự cấu hình được cài sẵn vào nhiều bo mạch loại BX, giúp bạn khỏi phải khó nhọc với các jumper và switch DIP (dual in-line package).
Để kiểm tra về mặt kỹ thuật, chúng ta sử dụng chương trình PC WorldBench 98 (chương trình trắc nghiệm tốc độ) và chạy trên mỗi bo mạch chủ.
Ngoài ra, các thiết bị ngoại vi được sử dụng cùng với bo mạch bao gồm: đĩa cứng Quantum Fireball SE2 2,1 GB, 64MB SDRAM DIMM cho các bo mạch LX và 64MB SDRAM DIMM 100MHz theo chuẩn PC-100 cho bo mạch BX; Card AGP và 2D/3D; 24x CD-ROM...
Vấn đề tồn tại chung cho tất cả các bo mạch, và không chỉ đối với các loại đang xem xét mà còn tất cả bo mạch trước đây là sự không cẩn thận, lẫn lộn, đôi khi sai trong tài liệu và sơ đồ hướng dẫn. Thật khó để xác định vị trí cắm đèn LED của đĩa cứng, và thậm chí cả công tắc nguồn. Điều này có thể do phần lớn các bo mạch chủ đều được sản xuất tại Đài Loan, nơi mà tiếng Anh chưa phải thông dụng.
Với người dùng PC, không có gì hạnh phúc hơn khi máy tính khởi động chuẩn xác. Nếu tất cả được cấu hình đúng, trò chơi 3D sẽ chạy nhanh và trơn tru, các ứng dụng văn phòng được thực hiện nhịp nhàng, không có sự trì trệ khó chịu. Hơn nữa, bạn có thể tin chắc rằng bo mạch của bạn đang kiểm soát nhiệt độ và mọi hoạt động của nó với sự chính xác và cẩn thận.
Bo mạch sử dụng bộ chip Intel 822440BX
Aristo AM-608BX
Được giới thiệu như một bo mạch tích hợp cao, gọn và có giá hấp dẫn, Aristo AM-608BX hỗ trợ SDRAM và Registered SDRAM, có đặc tính Super I/O, Ultra-DMA/33, PCI Bus Master IDE, AGP version 1.0, tuân thủ PCI version 2.1, USB, theo chuẩn VRM 8.2, kiểm soát hệ thống LM79/75 và Creative sound (tùy chọn). Khe cắm Slot 1 có thể tiếp nhận bất kỳ loại Pentium II nào từ 233 - 450MHz với tốc độ bus 66MHz hoặc 100MHz. Voltage Regulator Module (VRM) được cài sẵn trên bo cho phép dễ dàng nâng cấp lên các bộ xử lý OverDriver của Intel trong tương lai.
Bo mạch hỗ trợ đến 412MB SDRAM hay 1GB Registered SDRAM với các khe DIMM 168 chân. SDRAM chỉ được hỗ trợ cho bus 66MHz. Có 4 khe DIMM (đủ để nâng cấp bộ nhớ), 3 khe cắm ISA (1 dùng chung với PCI), một khe cắm AGP1 (hỗ trợ version 1.0, 1x/2x), và 4 khe cắm PCI Bus-Master. Bo mạch thuộc loại ATX (ATX form factor). BIOS hệ thống là loại flash có thể nâng và có jumper để thay đổi điện áp 5V hay 12V. BIOS có thể nhận biết đĩa cứng loại LBA với dung lượng trên 8,4GB. Về khả năng quản lý năng lượng, Aristo hỗ trợ SMM, APM và ACPI.
Ngoài ra, còn có công tắc chuyển đổi dùng để tạm ngưng thao tác hệ thống (suspend/resume), Wake-On-LAN (WOL), Wake-On-Ring (WOR) dùng cho modem và tuân theo tiêu chuẩn Energy Star "green PC". Bo Aristo AM608BX là loại PC97/98 và bao gồm cả tính năng kiểm soát hệ thống.
Trong thử nghiệm với PC WorldBench 98, Aristo đạt 172 điểm với card video PCI S33ViRGE/GX. Tài liệu hướng dẫn ít và không chỉ ra ký hiệu +/- của dây nối.
AZZA PT-6IB
Đây là bo mạch nhanh thứ hai trong số các bo BX được xem xét (điểm PC WorldBench 98 là 172), và thuộc loại tốt đối với tùy chọn giá thấp. Tuy nhiên, có vài vấn đề về setup và phải khởi động lại vài lần. Nhưng sau khi thiết lập, bo mạch hoạt động bình thường.
Điều gây nhầm lẫn là hàng chân nối đèn tín hiệu của LED/power/HDD không có ký hiệu cho cực dương/âm (+/-), buộc người dùng phải tự mò mẫm để thử.
Với một PCI Local Bus, PT-6IB là bo mạch loại ATX dựa trên cơ sở bộ chip hệ thống 82440BX AGPset và Winbond I/O. Nó bao gồm hai kênh PIO (Programmed Input/Output) và cổng Ultra-DMA/33 Bus Master mode PCI IDE cài trên bo, một cổng điều khiển đĩa mềm, hai cổng serial tốc độ cao (UART) và một cổng parallel nhiều chế độ, hỗ trợ mouse PS/2, cổng hồng ngoại IrDA và USB. AZZA có thể chạy với các chip Pentium II từ 233 đến 450MHz với cấu trúc SEC.
Ngoài ra, PT-6IB còn có các đặc tính như mạch chỉnh điện áp, hỗ trợ +1,8V DC đến +3,5V DC của CPU, kích thước từ có thể là 8-, 16-, 32- và 64-bit, đường địa chỉ 32-bit. Trên bo có 3 khe cắm DIMM 168 chân, cho phép tối đa 384MB bộ nhớ loại parity và ECC (error correcting code). AZZA PT-6IB hỗ trợ tính năng Wake-On-LAN và các chức năng Green (tiêu chuẩn môi trường).
DFI P2XBL
Bo mạch P2XBL được trang bị đế cắm CPU Slot 1 cho Pentium II các loại từ 266MHz đến 450MHz. PCI Bus có thể thiết lập 66MHz hay 100MHz. Với 3 khe cắm dành cho bộ nhớ loại DIMM 168 chân, kích thước bộ nhớ có thể đạt 384MB. Khe cắm mở rộng bao gồm: một dành riêng cho AGP, ba PCI, hai ISA và một chung cho PCI/ISA. Tất cả khe cắm PCI và ISA có Bus Mastering. P2XBL hỗ trợ bộ nhớ EC và ECC.
Hệ thống kèm theo Desktop Management Interface (DMI) 2.0 được cài vào Award BIOS có thể nâng cấp. Tiện ích này tự động ghi lại các thông tin về cấu hình hệ thống và lưu chúng vào "vùng DMI" (một phần trong BIOS Plug-and-Play của hệ thống. DMI được thiết kế nhằm giúp việc bảo dưởng, sửa chữa, khắc phục sự cố trở nên dễ dàng hơn. Kết nối I/O có sẵn trên bo mạch bao gồm: hai cổng serial ND16C550 tương thích DB-9, một cổng parallel SPP/ECP/EPP DB-25, một giao tiếp cho đĩa mềm hỗ trợ đến hai ổ đĩa mềm loại 2,88MB, một cổng mouse PS/2 mini-DIN-6, một cổng bàn phím PS/2 mini-DIN và một đầu nối Wake-On-LAN. Ngoài ra, bo mạch còn có một cổng IrDA và hai USB.
Bộ điều khiển PCI Bus Master IDE cho phép hai giao tiếp PCI IDE hỗ trợ 4 thiết bị IDE. Bo mạch cũng hỗ trợ Ultra-DMA/33 (chế độ Synchronous Ultra DMA/33), Enhanced IDE PIO Mode 3 và Mode 4 với tốc độ truyền 16,6MB/s, ATAPI CD-ROM và LS-120 và Iomega ZIP. DFI P2XBL còn có đầu cắm cho Creative SB-Link để kết nối giữa bo hệ thống và card Creative SB PCI. Bo mạch này có khả năng theo dõi và điều khiển nhiệt độ làm việc và hoạt động của quạt thông gió.
P2XBL đạt 172 điểm trong thử nghiệm. Setup bo mạch dễ dàng và nó làm việc ổn định.
Elitergroup P6BX-A+
Đây là bo mạch nhanh nhất và cũng là một trong số những bo mạch nhiều tính năng nhất (điểm trắc nghiệm 176). P6BX-A+ không chỉ chạy ổn định mà còn rất dễ setup, cả điện áp cho BIOS và xung nhịp đều được tự động thiết lập. Tuy nhiên, tài liệu hướng dẫn còn chưa hoàn hảo.
Bo mạch có 3 khe cắm DIMM, có thể tiếp nhận 384MB SDRAM loại 3,3V. Elitegroup chỉ sử dụng SDRAM 100MHz tuân theo chuẩn PC-100 để đạt tốc độ cao nhất. Đặc tính tiết kiệm năng lượng bao gồm nguồn cung cấp loại ATX và ACPI. BIOS hệ thống hỗ trợ tự động Wake-On-LAN và Wake-On-Call. P6BX-A+ còn được trang bi SB-Link của Creative, cho phép tương thích ngược giữa chip PCI audio và chip ISA audio (thuật ngữ thường dùng là "PC to PCI bridge").
Bo mạnh có 7 khe cắm mở rộng: hai ISA 16-bit, năm PCI 32-bit (trong đó 1 dùng chung với ISA) và một khe cắm AGP. Các cổng chuẩn gồm hai kênh Enhanced IDE, mỗi kênh hỗ trợ hai thiết bị; một đầu nối hỗ trợ hai ổ đĩa mềm; một cổng parallel và hai cổng serial; hai cổng USB; hai cổng PS/2 (cho mouse và bàn phím). Sử dụng firmware (phần mềm được cài cứng), bạn có thể cài thêm phím nóng để bật nguồn (power-on hot-key).
Gigabyte GA-686BX
Gigabyte là một trong những nhà sản xuất có tên tuổi trên thị trường hiện nay. Bo mạch mới GA-686BX của Gigabyte (172 điểm PC WorldBench 98) kèm theo một đĩa CD-ROM với 6 tiện ích hữu dụng cho mainboard. Tài liệu trình bày tốt với nhiều sơ đồ và hình ảnh. Bo mạch làm việc tốt và ổn định. Các đầu cắm cho LED, DIP swich được bố trí hợp lý, mạch lạc và tiết kiệm chỗ.
Về tính năng, GA-686BX được trang bị một khe cắm AGP, đế Slot 1 tiếp nhận Pentium II 233 - 450MHz. Tốc độ bus có thể thay đổi 66 hay 100MHz và được tự động điều chỉnh. Bo mạch gồm bộ chip Intel 440BX AGPset, Winbond 83977 I/O và chip Winbond 83781 Health (tương đương với LM78). Bộ chip 440BX hỗ trợ đặc tính Quad-Port Acceleration (QPA) của Intel, cho phép mở rộng băng thông giữa CPU, AGP, 100MHz SDRAM và bus hệ thống PCI. Phần bộ nhớ gồm 4 khe cắm 3,3V DIMM với khả năng hỗ trợ tới 1GB DRAM. Khả năng mở rộng gồm 1 khe cắm AGP, bốn khe PCI và ba khe ISA.
GA-686BX được trang bị 2Mbit Award BIOS loại flash có chức năng chống virus và Green. Nó còn cung cấp những thông tin bổ ích như nhiệt độ CPU và tình trạng quạt gió. Đầu cắm nguồn loại ATX và các chế độ tắt/mở được áp dụng công nghệ mới nhất. Bo mạch còn hỗ trợ Wake-On-LAN, đầu nối Creative SB-Link, cầu chì bảo vệ bàn phím. Các driver bao gồm LDCM, SIV, Intel PIIX4 và Ultra DMA/33 Bus Master IDE.
Microstar (MSI) MS-6116
Giống như bo mạch LX, MS-6116 với bộ chip 82440BX có đầy đủ tính năng và là bo mạch rất ổn định. mặc dù chỉ đạt điểm 170 (thấp nhất trong thử nghiệm). Nhưng bạn cần biết rằng khác biệt 10 điểm không đáng kể và khó nhận thấy đối với nhiều người. Bo mạch có nhiều khả năng tự theo dõi và kiểm soát nhiệt độ tăng cường.
Một số đặc tính cơ bản của MS-6116 là tuân theo chuẩn PCI/ISA và Green, kết nối Host/AGP, các chức năng ACPI, hỗ trợ Ultra-DMA/33 và SHMC (system hardware monitor control). SHMC có thể nhận biết CPU, nguồn điện, vòng quay của quạt và kiểm soát điện áp và nhiệt độ của CPU, hệ thống. Đế cắm Slot 1 trên bo có thể dùng cho Pentium II 233 - 400MHz. Tỷ lệ tốc độ lõi/bus được thay đổi từ x2 đến x6 hoặc cao hơn. Switching Voltage Regulator cho phép điều chỉnh điện áp DC và tuân theo chuẩn Intel VRM 8.2. Bo MS-6116 hỗ trợ cho bus 66,6MHz và 100MHz, cũng như dành cho 75MHz và 83MHz.
Bộ nhớ chính gồm 4 khe cắm DIMM cho phép đạt tối đa 512MB. Bo mạch cũng hỗ trợ chức năng ECC và hỗ trợ 3,3V SDRAM DIMM. Có thể mổ rộng với một khe AGP (hỗ trợ thiết bị AGP bất kỳ với 66MHz/133MHz và 3,3V), 4 khe cắm PCI và 3 khe ISA (một khe cho cả ISA và PCI). MS-6116BX hỗ trợ PCI Bus Interface 3,3/5V.
Bộ điều khiển IDE trên cơ sở bộ chip Intel 82371EB PCI cho phép một ổ cứng và/hay một ổ CD-ROM với PIO, Bus Master và Ultra-DMA/33. Các thiết bị cài sẵn trên bo gồm cổng cho 2 ổ đĩa mềm, hai cổng serial, một parallel (SPP/EPP/ECP), hai USB và một IrDA.
Tyan S1846S/L/A Tsunami ATX
Bo mạch chất lượng cao của Tyan giành được sự tin cậy của người dùng trên thế giới (mặc dù giá cũng cao). Bản hướng dẫn sử dụng bo mạch rất rõ ràng, cẩn thận và chi tiết, tốt nhất trong số các tài liệu được xem xét.
Về những đặc tính cơ bản, S1846S/L/A Tsunami ATX có thể hỗ trợ Pentium II 233MHz đến 400MHz và cao hơn. Ngoài ra còn có tùy chọn cho chip Celeron. Bo mạch chạy ở tốc độ bus 66MHz hoặc 100MHz và trên bo cài sẵn các thành phần VRM. Tsunami được trang bi bộ chip National "309" Super I/Ovà Intel 82440BX AGPset. Bo mạnh sử dụng công nghệ GTL+ cho phép giảm năng lượng tiêu thụ và EMI (electro-Magnetic Interference). Ngoài ra còn có đặc tính Wake-On-LAN khi sử dụng với bộ nguồn ATX. Một tính năng khác là power-recovery-after-interrupt (hồi phục nguồn sau khi ngắt).
Khả năng mở rộng của bo mạch gồm 5 khe cắm 32-bit PCI, hai khe 16-bit ISA và một khe chung PCI/ISA. Trên bo có hai cổng USB loại ATX, một IrDA, một cổng parallel tốc độ cao, hai cổng serial UART16550 và hỗ trợ ổ đĩa mềm Mode-3. Hệ thống I/O và điều khiển đĩa gồm hai cổng Ultra-DMA/33 PCI Bus Master cho phép CD-ROM loại EIDE. Bus Mastering hỗ trợ PIO Mode 3 và 4 (tốc độ truyền đạt 22MB/s) và hai ổ đĩa mềm (dung lượng đến 2,88MB).
Phải nói rằng bo mạch Tsunami có đầy đủ tính năng và rất đáng tin cậy. Ngoài ra còn được bảo hành 3 năm.
Nhật Thanh PCW Singapore 7/1998
ENPC EP-KL21
Bo mạch được sản xuất bởi ENPC Technologies Corporation tích hợp bộ điều kheỉn IDE với hai giao tiếp IDE tốc độ cao cho 4 thiết bị IDE như đĩa cứng, CD-ROM. Bộ điều khiển Super I/O có những chức năng chính: giao tiếp ổ đĩa mềm, 2 cổng serial 16byte FIFO và một cổng parallel EPP/ECP. Bo mạch hỗ trợ từ 8 đến 512MB SDRAM, 1GB EDO RAM. Nó cũng hỗ trợ Fast Page chuẩn, EDO và SDRAM. Có 3 khe cắm DIMM 169 chân, mỗi khe 32MB. Bộ nhớ đòi hỏi RAM loại 70ns Fast Page hay 60ns EDO. Thiết bị không hỗ trợ RAM parity.
Trên bo mạch EP-KL21 có hai đầu nối PCI-IDE, khả năng tự nhận biết loại đĩa cứng nhờ BIOS. Hệ thống cũng hỗ trợ Award Plug-and-Play BIOS cho card ISA và PCI. Các tính năng khác bao gồm hỗ trợ Ultra-DMA/33, Softpower SM-bus của Windows 95, cổng IrDA, kiểm soát phần cứng LM 78/75, chuẩn ATX.
Phần mở rộng bao gồm 3 khe cắm ISA, 4 khe PCI và 1 AGP. Bo mạch đạt 137 điểm PC WorldBench 98.
Microstar MS-6117 ATX LX6
Bo mạch sử dụng bộ chip Intel 82440LX AGPset tích hợp và Quad Port Acceleration (QPA). QPA cho phép xử lý đồng thời 4 đường cho CPU bus, đồ họa, PCI bus và SDRAM. Bộ chip Intel 82371AB tích hợp tất cả các chức năng điều khiển của hệ thống như Advanced Configuration and Power Interface (ACPI). ACPI đặc trưng bởi tính năng tiết kiệm năng lượng cho OS Direct Power Management (OSPM). 82371AB cũng hỗ trợ LM78 System Hardware Monitor Controller như một chức năng tùy chọn. Chức năng LM78 bao gồm nhận biết CPU/Power supply, vòng quay quạt thông gió, kiểm soát điện áp, nhiệt độ của CPU và hệ thống.
MS-6117 có một đế cắm CPU Slot 1 loại ATX hỗ trợ CPU 200 - 333MHz. Tỉ lệ tốc độ lõi/bus từ x2 đến x6 và cao hơn. Bộ điều chỉnh điện áp trên bo mạch tuân theo chuẩn Intel VRM ver. 8.1 với khả năng bảo vệ quá điện áp. Bo mạch có năm khe cắm Master PCI bus 32-bit, hai khe ISA 16-bit. và một khe chung PCI/ISA. Thiết bị trên bo bao gồm một cổng đĩa mềm hỗ trợ hai ổ đĩa, hai cổng serial, một cổng parallel (SPP/EPP/ECP), cổng mouse PS/2 và bàn phím, hai cổng USB và một IrDA.
Điểm trắc nghiệm của MS-6117 là 137 PC World Bench98.
Để đánh giá tốc độ chung của hệ thống, tạp chí PC World của Mỹ đã đưa ra một hệ chương trình để chạy trên mỗi máy tính cần kiểm tra. Hệ chương trình này được gọi là PC World Bench 98. Để chạy PC World Bench 98, trên máy phải cài sẵn các ứng dụng Microsoft Word 97, Microsoft Excell 97, Lotus 1-2-3 97, Corel Word Pro 97, Corel Paradox 8 và Micrograf Picture Publisher 7. PC WorldBench 98 chạy một kịch bản soạn sẵn (script) cho mỗi ứng dụng trong 3 lần, khởi động lại sau mỗi lần chạy. Trên cơ sở thời gian chạy mỗi kịch bản, PC WorldBench 98 đưa ra đánh giá và so sánh với điểm chuẩn của hệ máy cơ sở (Dell 200MHz MMX, 32MB RAM) rồi cho điểm cuối cùng. Điểm càng cao, tốc độ máy càng nhanh.
LeHoanPc 1996 - 2001
Mirror 1: http://www.tlnet.com.vn/weblh/
Mirror 2: http://www.hcmpt.vnn.vn/co/weblh/
Mirror 3: http://www.lehoan.andi.vn/
Thu Trà (theo PCWorld, 10/7)
Ngay cả với một số công nghệ mới như Plug and Play, việc cài đặt phần cứng vẫn có thể gặp rắc rối. Sai sót và trục trặc sẽ làm bạn mất hàng giờ để xử lý. Chỉ dẫn dưới đây sẽ giúp bạn vận hành máy một cách êm ru.
Trước tiên, hãy tạo ra một backup. Hằng ngày, Windows 98 sẽ tự động sao chép để lưu trữ các file Registry. Theo mặc định, nó sẽ lưu giữ 5 backup cuối cùng trong Windows\Sysbckup folder, kiểu như các file .cab có tên là rb xxx.cab (xxx là số của backup, ví dụ như 001 hoặc 002). Hãy copy một file .cab mới nhất và đặt một tên khác sao cho nó không bị ghi đè do copy hỏng. Nếu bạn cần lưu trữ một backup file, hãy khởi động lại hệ thống trong chế độ DOS và chạy regscan.exe.
Tiện ích System Restore của Windows Me sẽ tự động thực hiện việc backup hệ thống. Ấn chuột vào Start, Programs, Accessories, System Tools, System Restore để reload cấu hình hệ thống mà Windows đã lưu từ trước đó.
Cuối cùng, hãy chắc chắn rằng điện trên người bạn đã được tiếp đất. Thậm chí chỉ một sự tích điện tĩnh rất nhỏ trên cơ thể cũng có thể làm hỏng mạch điện tinh xảo trong PC của bạn. Hãy sờ vào phần khung gầm kim loại của hệ thống ngay trước khi bạn rút phích cắm ra khỏi ổ điện được tiếp đất. Luôn luôn phải tháo dỡ tất cả đường dò tới các thiết bị cũ trước khi bạn cài đặt cái mới vào. Hãy làm như sau:
1. Sử dụng chương trình ứng dụng Add/Remove Programs trong Control Panel để gỡ bỏ tất cả phần mềm liên quan tới thiết bị.
2. Dỡ bỏ driver của thiết bị. Nhấn chuột vào Start, Settings, Control Panel, System, chọn phím Device Manager tab, kích đúp chuột vào category của thiết bị, chọn thiết bị mà bạn đang tháo cài đặt và click vào nút Remove. Lưu ý: Để tháo dỡ bộ phận điều khiển của một graphics card (Windows gọi nó là “display adapter”), trước hết kích đúp chuột vào tên thiết bị, chọn Driver tab trong hộp Properties, và chọn nút Update Driver; sau đó sử dụng Update Device Driver Wizard để cài đặt bộ phận điều khiển VGA của Windows.
3. Tắt máy PC.
4. Mở hộp hệ thống và gỡ bỏ thiết bị cũ. Nếu bạn muốn nâng cấp graphics card, hãy đặt thẻ mới vào đúng thời điểm này.
5. Khởi động lại máy tính và kiểm tra Device Manager. Nếu mục nhập của thiết bị cũ vẫn còn ở đó, hãy lặp lại thao tác tháo cài đặt một lần nữa. Đôi khi, bạn phải hơn một lần remove một thiết bị trước khi không còn sót một trace nào trong Windows.
Cài đặt từng thiết bị mới vào và sử dụng PC của bạn trong vài ngày sau mỗi lần cài đặt để phát hiện trục trặc. Có 5 điều bạn cần nhớ khi cài đặt:
1. Plug and Play không phải lúc nào cũng là phương pháp tối ưu để cài đặt một thiết bị. Một số driver đã có sẵn chương trình cài đặt riêng.
2. Nếu chỉ dẫn cài đặt không rõ ràng hoặc đưa ra hướng dẫn cho một model khác, hãy vào website của nhà sản xuất và tìm kiếm tài liệu cập nhật.
3. Hãy có được một update mới nhất của driver. Hãy kiểm tra website của người bán để có được các phiên bản mới hơn.
4. Đừng gián đoạn quy trình cài đặt vì có thể gây ra rắc rối cho bạn. Nếu bạn muốn huỷ bỏ việc cài đặt, trước hết hãy hoàn tất quy trình rồi mới tháo cài đặt driver.
5. Hãy chắc chắn rằng tất cả đinh vít trên card của bạn đã được xiết chặt. Những card không được vít chặt có thể bị trật ra khỏi rãnh.
Cũng có khi bạn cần Windows CD-ROM của mình khi PC đang chạy trong lúc bạn cài đặt phần cứng. Nếu bạn không tìm thấy đĩa này, hoặc không thể làm cho CD-ROM driver hoạt động, có thể bạn đã bị kẹt.
Để thao tác an toàn, hãy đặt một folder trên đĩa cứng của bạn, đặt tên nó là CABS và copy các tệp tin Windows' .cab (phiên bản nén của các tệp tin hệ điều hành Windows). Bạn chỉ việc copy các folder “win98” và “drivers” từ Windows CD.
Mười lời khuyên khi lắp đặt card nâng cấp
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 5/99
Để đạt được những kết quả tốt nhất thì hãy "ghi lòng tạc dạ" mười lời khuyên này. Tuy nhiên có theo hay không thì cuộc sống vẫn ngày càng trở nên đơn giản hơn. Chúng ta đã có máy tính. Chúng làm cho cuộc sống của chúng ta dễ dàng hơn bằng cách thực hiện công việc theo cách này mà không theo cách kia. Hãy chọn Plug and Play. Công nghệ này sẽ làm cho việc bổ sung thêm phần cứng mới của bạn đơn giản và nhanh chóng hơn - đặc biệt với Windows 98 - nhưng còn xa mới đạt đến mức bất kỳ ai cũng dùng được. Việc lắp đặt card mạng hoặc card tăng tốc video chẳng hạn, có thể gây ra hàng loạt hiệu ứng trong tranh chấp, ngay cả khi đã được lắp đặt đúng. Và một lắp đặt vụng về có thể làm bạn mất vài giờ, nếu không muốn nói là vài ngày, ngưng công việc. Bạn có thể tránh mọi cạm bẫy khi nâng cấp bằng cách làm theo những gì được gọi là mười lời khuyên sau đây.
1. Sao lưu trước khi thực hiện. Lắp đặt phần cứng thường kéo theo cả việc cài đặt phần mềm driver. Và nếu bạn vấp phải các trục trặc trong quá trình cài đặt, thì các tập tin quan trọng có thể bị thay đổi, hư hỏng, hoặc thậm chí bị xóa mất. Cho nên lúc nào cũng phải có trong tay bản sao lưu mới nhất cho dữ liệu. Lý tưởng hơn cả là có một bản sao hoàn chỉnh của đĩa cứng được cất giữ ở một nơi an toàn.Drive Image 2.0 của PowerQuest là phương tiện tốt nhất cho công việc này. Nếu không được như vậy thì ít nhất cũng phải sao lưu các tập tin hệ thống then chốt: system.dat, user.dat, system .ini, và win.ini (tất cả đều trong folder Windows) cũng như autoexec .bat và config.sys (trong folder gốc).
2. Làm công việc của người nội trợ. Việc cài đặt thường yêu cầu phải tiến hành các chọn lựa không rõ ràng và không trực giác, cho nên phải đọc kỹ tài liệu kỹ thuật. Thu thập các thông tin cài đặt như cổng COM, và đối với phần cứng không Plug-and-Play, thì tất cả các địa chỉ DMA và IRQ. Tiếp theo là vào Web site của sản phẩm đó, tìm hiểu thêm có phiên bản driver nào mới hơn không, và nếu có thì tải xuống. Nhưng phải thận trọng, nhiều hãng sẽ cung cấp phiên bản bêta của driver dùng cho card của bạn. Trừ trường hợp bạn có lý do chắc chắn để tin một driver bêta nào đó là ổn định, còn thì nên tránh. Chúng đều đang trong quá trình hoàn thiện và có thể chưa đủ chất lượng để hỗ trợ kỹ thuật. Nên khai thác kinh nghiệm của những người khác. Nếu có FAQ hoặc thông tin trên site của hãng đó, bạn hãy đọc kỹ để biết rõ các trục trặc và vấn đề thường gặp đối với card của bạn.
Hình 1: Cài đặt driver VGA của Windows trước khi loại bỏ card đồ họa cũ và lắp đặt card đồ họa mới.
3. Tham khảo ý kiến các chuyên gia. Nếu không tìm thấy các giải đáp thỏa mãn trên trực tuyến hoặc trong các tài liệu kỹ thuật, bạn nên gọi điện cho bộ phận hỗ trợ kỹ thuật của nơi cung cấp card trước khi bắt tay lắp đặt. Các kỹ thuật viên hỗ trợ này là nguồn khai thác tốt nhất về thông tin mới và các thủ thuật sửa chữa đối với các phần cứng đặc biệt. Thư viện lớn nhất về thông tin tìm hỏng đã được sưu tập và đặt trong KnowledgeBase trực tuyến của Microsoft (support.microsoft .com), và trong cơ sở dữ liệu mang tính kỹ thuật cao hơn là TechNet (www .microsoft.com/technet).
4. Trước hết phải loại bỏ các driver cũ. Nếu định thay card đang dùng, bạn hãy bỏ driver của card cũ trước khi lắp đặt card mới. Vào Device Manager (nhấn nút phải chuột lên My Computer.Properties, chọn tên thiết bị cũ, và nhấn nút Remove; hoặc bắt đầu từ Control Panel, chạy Add/Remove). Bạn sẽ không thể xóa bỏ được driver của card video, cho nên - để vượt qua trở ngại này - bạn nhấn kép chuột lên mục driver màn hình trong Device Manager, nhấn nút Update-Driver trên nhãn Driver và thay driver hiện hành của bạn bằng driver Standard VGA của Windows (hình 1).
5. Không bao giờ được ngắt nửa chừng quá trình cài đặt driver. Bằng mọi cách phải kết thúc việc cài đặt driver rồi sau đó mới hủy cài đặt nó - nếu cần. Ngưng cài đặt giữa chừng có thể làm thay đổi hoặc làm hỏng các tập tin hệ thống quan trọng. Và bạn cũng không thể hồi cố (undo) việc gây hỏng này bằng cách loại bỏ từng phần đã được cài đặt bằng tính năng Add/Remove hoặc bằng cách cài đặt lại driver đó.
6. Lắp đặt lần lượt từng card một. Nếu định bổ sung thêm nhiều card, bạn lắp một cái vào trước rồi thử cho chạy hệ thống trong một lát. Sau khi đã bảo đảm chắc chắn không có tranh chấp nào thì mới lắp card khác vào. Thực hiện kiểu này sẽ dễ cô lập và giải quyết các trục trặc xảy ra về sau.
7. Tiếp đất tốt. Tĩnh điện trên người bạn có thể phá hỏng các chip. Luôn nhớ tiếp đất bản thân bằng cách chạm tay vào một vật dẫn lớn đã được nối đất (bằng nhôm, thép). Nếu không có vật nào như vậy, chạm vào đế máy PC trong khi máy vẫn còn cắm vào ổ điện có tiếp đất.
8. Nhẹ nhàng nhưng chắc chắn. Phải hết sức cẩn thận khi cắm card vào máy. Đôi khi cũng cần ấn mạnh, dứt khoát để cắm card vào khe cắm mở rộng.
9. Vặn chặt vít. Luôn nhớ gắn chặt giá đỡ của card vào khung PC. Mặc dù card như đã nằm đúng chỗ một cách chắc chắn, nhưng vẫn có thể dễ bị long và gây ra mọi loại trục trặc.
10. Giữ lại card và phần mềm cũ. Quy luật Murphy về lắp đặt: Sau khi đã vứt bỏ một vật sẽ có ngày bạn lại cần đến nó.
Mạnh Cường
US PC World 5/99
10 thủ thuật đối với Modem
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 11/99
1. Cập nhật driver mới nhất
Trước hết và tốt nhất, bạn phải chắc rằng mình có các driver mới nhất cho modem của mình. Các driver này thường có ở trang Web của nhà sản xuất. Nếu không biết chính xác địa chỉ trang Web của nhà sản xuất, bạn đọc kỹ tài liệu kèm theo modem để tìm tên chip dùng cho modem. Bạn có thể vào trang Web của nhà sản xuất bằng cách gõ tên của loại chip vào ô địa chỉ trong trình duyệt.
2. Phục hồi các thiết lập ban đầu
Nếu modem của bạn không hoạt động, hãy thử dùng lệnh AT&F1 hoặc ATZ. Lệnh AT&F1 thường phục hồi cấu hình khi xuất xưởng modem, còn ATZ thường đặt lại cấu hình mặc định (default).
3. Không có tín hiệu và âm thanh của modem
Nếu bạn không thể nghe được tín hiệu, hãy cắm lại jack nối với đường dây điện thoại và kiểm tra xem đã chỉnh âm lượng đủ lớn để có thể nghe được âm thanh phát ra từ modem chưa. Nếu modem nhận được tín hiệu và gọi đi được nhưng không thể kết nối thì nguyên nhân phần nhiều là từ phía modem mà bạn đang kết nối tới.
Để điều chỉnh âm lượng của modem, vào Control Panel/Modem, chọn Properties và điều chỉnh thanh trượt. Nếu vẫn không thể kết nối được, hãy thử quay một số khác để kiểm tra.
4. Dây nối ngắn
Nếu có thể được, hãy dùng dây nối càng ngắn càng tốt, vì dùng dây dài, tín hiệu nhận được sẽ kém, cũng có nghĩa là kết nối sẽ chậm hơn.
5. Hãy để modem được riêng biệt
Không nên cắm điện thoại vào chấu cắm Phone trên modem, điều đó có thể làm ảnh hưởng tới các kết nối Internet/Fax/BBS. Đối với một số modem, khi bạn cắm điện thoại vào, nó chỉ có thể kết nối được ở tốc độ 31.200? Nhưng khi bạn rút điện thoại ra nó lại đạt tốc độ 33.600?
6. Chỉnh thông số MTU cực đại
Một số người nhận thấy rằng tác vụ truyền file trên Internet khá chậm, thường chỉ trong khoảng 900 -1800 ký tự (character), ngay cả với modem 56K. Nguyên nhân có thể liên quan đến một thông số của Win95/98 gọi là Maximum Transmission Unit (MTU). Hãy nhìn vào mục "Bytes received/sec" trong System Monitor và so sánh thông số đó với thông số mà trình duyệt Web của bạn thông báo. Hai số này chỉ nên khác nhau trong khoảng 10%-12%. Nếu thông số do System Monitor thông báo là 3300 thì thông số còn lại phải vào khoảng 3000. Nếu như 2 thông số này sai lệch quá nhiều thì có thể là do thông số MTU của Windows 95/98. Microsoft vẫn chưa đưa ra chương trình nào để sửa thông số này, nhưng bạn có thể tải về từ địa chỉ: http://www.aimnet.com/Aạjnavas/modem/tcpipcfg.exe.
7. Bộ đệm lớn hơn
Trong bất cứ tác vụ truyền dữ liệu nào cũng sẽ có một phần dữ liệu bị mất đi trên đường truyền và không có cách nào để lấy lại được. Nhưng bạn có thể tăng tỷ lệ nhận tín hiệu chính xác bằng cách bổ sung thêm một dòng lệnh vào file SYSTEM.INI. Có điều trước khi bắt đầu, bạn cũng nên biết cách Windows điều khiển luồng dữ liệu tới như thế nào. Modem của bạn gửi dữ liệu tới trình điều khiển COMM của Windows, trình điều khiển này lưu dữ liệu vào một vùng đệm cho tới khi chương trình truyền thông của bạn lấy lại. Nhưng thật không may là công việc này chỉ được làm khi chương trình rảnh rỗi, kết quả là nó không thể lấy được dữ liệu từ trình điều khiển COMM thường xuyên như yêu cầu.
ở chế độ mặc định, Windows chỉ dành ra một phần bộ nhớ có khả năng lưu trữ 128 ký tự (character). Nhưng một khi modem đã được nối mạng thì dòng dữ liệu đi vào máy bạn một cách liên tục. Máy tính có thể tạm thời ngừng dòng dữ liệu đi vào này, nhưng làm như vậy sẽ mất thời gian nên dữ liệu vẫn tiếp tục đi vào mà không được lưu giữ ở bộ đệm của trình điều khiển COMM. Nếu kết nối của bạn chậm hoặc chương trình truyền thông nhanh thì bộ đệm chứa 128 ký tự có thể đủ, nhưng nếu ngược lại thì lượng bộ nhớ đệm đó sẽ là quá nhỏ.
Bạn có thể khắc phục được vấn đề này theo cách sau:
+ Mở file SYSTEM.INI bằng một trình soạn thảo văn bản.
+ Tìm mục [386enh]
+ Thêm dòng có dạng như sau: COMxBuffer=num
trong đó "x" là một số từ 1 tới 4 cho biết tên của cổng COM mà modem của bạn sử dụng, còn "num" là số trong khoảng 128 tới 10.000 để xác lập độ lớn của bộ đệm. Thường bạn nên đặt ở giá trị 10.000. Sau đó nếu trong thời gian tải file về mà tốc độ truyền bị giảm dần thì hãy đặt một số nhỏ hơn cho đến khi vừa ý.
Bạn cần phải khởi động lại Windows để xác lập này có tác dụng.
8. Tiếp thêm sức mạnh cho các cổng COM
Thông thường, Windows 95/98 đặt cấu hình cho các cổng COM ở tốc độ 9.600bps, nhưng nếu bạn sử dụng modem 14,4 Kbps thì nên tăng trị số này.
Mở Control Panel/System, kích chuột vào tab Device Manager, mở rộng nhánh Ports, nhấn đúp chuột vào mỗi cổng COM, chọn thanh Port Setting và thay đổi thông số "Bits Per Second" lên ít nhất là 57.600 (hình 2), sau đó nhấn nút Advanced và đánh dấu chọn "Use FiFO buffers [requires 16550 compatible UART]".
9. Truyền dữ liệu nhanh hơn và tăng tốc kết nối
Với Windows 95/98, mở Control Panel/Modem, chọn nút Properties; trong thanh General, chọn "Maximum Speed" là 115.200; trong thanh Connection, chọn Advanced và đánh dấu chọn "User Error Control", "Compress Data" và "Use Flow Control (Hardware)".
10. Giảm thiểu nhiễu đường dây điện thoại
Nhiễu (tiếng ồn) đường dây điện thoại là một trong những yếu tố dễ phát hiện nhất. Nhiễu đường dây không phải là vấn đề với các modem thuộc loại ISDN, DSL hoặc modem cáp mà với loại đường dây điện thoại kiểu tuần tự (analog), như ở nước ta thì nó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kết nối chậm.
Để kiểm tra mức độ tiếng ồn, bạn nhấc ống nghe lên và lắng nghe âm thanh. Có thể bạn sẽ nghe thấy các âm thanh rè rè khác nhau và khác âm thanh tín hiệu, đó có thể là do chất lượng dây điện thoại kém, do hơi nước hoặc một vài nhân tố khác. Cách tốt nhất để giảm bớt tiếng ồn đường dây là cố gắng sử dụng dây điện thoại càng ngắn càng tốt, nếu vẫn không được hãy gọi nhân viên sửa chữa điện thoại của Bưu điện đến để kiểm tra chất lượng đường dây.
7 cách nâng cấp PC
Xem bai viet bang font ABC
PC World VN 1/1999
Cho dù là CPU hay ổ CD-ROM, modem hay bộ nhớ, việc nâng cấp có thể là cần thiết nhưng đôi lúc lại không.
Cỗ máy 486 cũ kỹ của bạn dường như có thể làm việc không nghỉ, nhưng nó không thể chạy Windows 98. Còn chiếc Pentium-133 mà công ty mua hai năm trước đã tỏ ra uể oải, đặc biệt là khi bạn nạp Office 97. Những ứng dụng phổ biến nhất đều bảo đảm giúp bạn nâng cao năng suất làm việc, nhưng với điều kiện chúng không buộc máy tính của bạn phải chào thua ngay từ đầu.
Bạn hiểu cần phải có máy tính mới. Ai lại chẳng cần? Nhưng có lẽ nên tiêu số tiền đó vào chuyến du lịch Paris thay vì mua một máy PII-450. Nếu chỉ nâng cấp một số bộ phận chọn lọc trong máy, bạn có thể nâng cao sức mạnh của máy lên một ít mà vẫn còn đủ tiền để tản bộ trên quảng trường Elysées.
Tuy nhiên, nâng cấp cũng có giới hạn. Trong thời buổi có thể mua một máy Pentium II mới với giá dưới 1000 USD, bạn chẳng nên bỏ ra quá 200 USD để xào nấu lại một hệ thống đã cũ. Ráng tăng thêm chút bộ nhớ hay mua hẳn một máy mới với những con chip cáu cạnh, đằng nào khôn ngoan hơn? Một video card nhanh hay modem 56-kbp thần tốc có thể giúp bạn làm việc tốt hơn không? Hoặc một ổ cứng lớn hơn thì sao? Hay một bộ DVD-ROM? Một cổng USB?
Trong bài hướng dẫn nâng cấp máy tính này, chúng tôi sẽ giúp bạn quyết định phải tập trung công sức và tiền bạc vào đâu, hay liệu có thể không cần nâng cấp gì cả chăng. Chúng tôi cho bạn cái nhìn tổng quan về những cải tiến chủ chốt trong hệ thống: bộ nhớ, CPU, lưu trữ, card đồ họa, modem, và nhiều thứ nữa. Bạn hãy xem qua toàn bộ danh mục lựa chọn của chúng tôi để hình dung giải pháp tốt nhất cho hoàn cảnh của bạn, sau đó nghiên cứu kỹ các bảng tóm tắt để nắm rõ những thách thức về kỹ thuật mà bạn sẽ phải giải quyết.
Dù bạn muốn chạy phiên bản mới nhất của Microsoft Office, chuyển sang Windows NT hay chỉ cần chơi Quake II, chúng tôi sẽ giúp bạn quyết định cần nâng cấp bộ phận nào trong máy, bộ phận nào thì cứ để yên vị. Còn khoản tiền tiết kiệm được, cố nhiên là tự bạn quyết định sẽ tiêu vào việc gì.
Nâng cấp bộ nhớ
Vì giá của RAM hệ thống hiện đang thấp chưa từng có, nâng cấp hữu hiệu mà ít tốn kém nhất chính là nâng cấp bộ nhớ. Dù bạn đang dùng máy Windows nào đi nữa, việc nâng cấp bộ nhớ sẽ làm chạy nhanh hơn thấy rõ. Có thêm RAM mới, máy tính sẽ bớt chậm do phải lệ thuộc vào bộ nhớ ảo, vốn là biện pháp để buộc ổ cứng đóng vai trò bộ nhớ thay thế khi RAM không còn chỗ trống. Nhờ có RAM mới, dữ liệu được xử lý nhanh hơn, các thành phần khác trong hệ thống như CPU và card đồ họa có thể làm việc hết khả năng tiềm tàng chứ không phải chầu chực chờ đĩa cứng.
Nếu đang ì ạch trên một máy 486 chỉ có 8MB RAM, bạn nên nâng cấp lên ít nhất 16 MB; và nếu lên hẳn 32 MB thì Windows 95 sẽ còn chạy tốt hơn nữa. Nếu thêm 16MB RAM vào một hệ Pentium đã có sẵn 16MB, máy sẽ chạy tuyệt vời mà bạn chỉ mất không đầy 50 USD. Và nếu bắt đầu từ 32MB, bạn có thể cần tăng lên 64MB, mà thêm 32MB còn rẻ tiền hơn một bữa tối cho hai người ở nhà hàng sang trọng. Và nếu muốn chạy nhiều ứng dụng cùng một lúc, đặc biệt là các phần mềm ngốn nhiều RAM như Microsoft Power Point hay Lotus Notes, bạn sẽ thấy có thêm bộ nhớ quả là hay hơn nhiều.
Bộ nhớ khác nhau
Trước khi nâng cấp, cần biết chính xác mình đang có loại bộ nhớ nào và cần thay bằng cái gì. Cách dễ nhất là gọi Web site của một nhà sản xuất lớn về bộ nhớ, chẳng hạn Kingston Technology (www .kingston.com) hay Crucial Technology (www.crucial.com). Chỉ cần nhập vào nhãn hiệu và model của máy bạn, site đó sẽ cho biết máy bạn dùng loại RAM nào và báo giá cho nó. Hầu hết các máy Pentium và một số Pentium MMX đều có EDO RAM được tổ chức trên một môđun bộ nhớ 72 chân một hàng (single inline). Bạn phải lắp đặt các SIMM theo cặp; vì vậy, muốn nâng cấp lên 32MB chẳng hạn, bạn cần có hai SIMM 16MB. Các hệ Pentium MMX mới hơn và hầu hết hệ Pentium II đều dùng những SDRAM nhanh hơn, được lắp trên môđun bộ nhớ 168 chân hai hàng (dual inline), và bạn có thể lắp mỗi lần một DIMM. Nếu là máy loại 486 cũ, có lẽ bạn đang dùng SIMM 32 chân chứa Fast Page Mode DRAM loại cũ.
Trong khi hầu hết các hệ Pentium II và Pentium Pro đều dùng bộ nhớ loại parity hay error correcting code để phát hiện những dữ liệu bị hỏng, nhiều hệ Pentium và Pentium MMX lại dùng bộ nhớ non-parity đơn giản hơn. Bạn cần xác định rõ kiểu bảo vệ dữ liệu trong RAM hiện tại của mình là dạng nào và bảo đảm bộ nhớ mới tương hợp với nó. Bạn có thể tự biết bằng cách đếm số chip trên môđun bộ nhớ. Nếu thấy một bên có chín con chip, đây hẳn là loại bộ nhớ parity hay tự sửa lỗi, không thì nó thuộc loại non-parity.
Tốc độ của RAM
Một số hệ Pentium MMX có kèm EDO DRAM nhưng bao gồm cả một cặp ổ cắm DIMM để có thể gắn các SDRAM nhanh hơn. Trong khi một số bo mạch chủ có thể chạy với cả SIMM lẫn DIMM cùng một lúc, bạn có thể tránh những trục trặc có thể phát sinh cũng như làm chậm hệ thống bằng cách chỉ gắn một thứ mà thôi. Nếu đang có bo mạch chủ 100MHz - kể cả Pentium II-350 và CPU AMD K6-2-350, bạn cần thận trọng khi gắn SDRAM mới vào máy. Bus nhanh hơn thì cần bộ nhớ tinh vi hơn, thường gọi là PC100 SDRAM. Còn PC66 SDRAM, vốn chậm hơn, rất có thể không chạy được nếu gắn vào bo mạch chủ nhanh hơn.
Tóm lại, dù muốn chạy chương trình minh họa, dùng bảng tính dày đặc đến hoa cả mắt hay chơi những game mới nhất, bạn chỉ cần thêm bộ nhớ là có thể tăng tốc cho chiếc máy cũ của mình được rồi.
Tăng cường bộ xử lý
Máy chậm quá, bạn muốn tăng tốc phải không? Thay CPU xem chừng là một ý hay, nhưng thường thì chẳng đáng làm vậy.
Vào cái thời một máy tính mới có giá ít nhất hai ngàn USD thì bỏ ra 200 đến 350 USD để nâng cấp CPU hãy còn hợp lý. Nhưng hiện nay cách đó không còn hấp dẫn nữa. Máy 486 và Pentium đời đầu vốn cần CPU mới hơn hết, cũng chính là những máy ít có khả năng chạy với CPU mới hơn cả. Thậm chí dù có nâng cấp BIOS để có thể chạy CPU mới hoặc ngậm đắng nuốt cay mà cài hẳn một bo mạch chủ mới, bạn vẫn cứ phải dùng một đĩa cứng nhỏ, RAM chậm rì và một video card đáng đưa vào hiệu đồ cổ. Dù có mua được CPU mới với giá bèo nhất đi nữa thì tân trang lại bộ đồ lề cũ rích vẫn là lợi bất cập hại.
Trong trường hợp nâng cấp CPU, ứng viên số một là các hệ Pentium 75-MHz, 90-MHz và 100MHz nếu chủ nhân chúng không đủ tiền mua máy mới. Nhưng Pentium hiện có của bạn càng cao cấp, bạn càng ít có lợi hơn nếu thay CPU mới. Và đừng có ý định gắn bộ xử lý Pentium II mới nhất vào hệ Pentium cũ đang dùng. Các CPU Pentium II và Celeron của Intel không cắm được vào ổ cắm chuẩn bộ xử lý Pentium hay Pentium MMX của bạn.
Chọn CPU
Nếu vẫn nhất quyết nâng cấp, bạn sẽ phải chọn một trong hai cách: hoặc mua một bộ nâng cấp hoặc chỉ mua CPU. Các bộ nâng cấp như MxPro-233 của Evergreen Technologies (199 USD, www.evergreen.com) và 200-MHz Pentium OverDrive với công nghệ MMX của Intel (199USD, www.intel.com) thích hợp với các hệ Pentium cũ và bao gồm mọi thứ cần thiết cho việc nâng cấp: CPU mới, quạt làm mát, hộp nóng (heat sink) và phần mềm để đánh giá và thực hiện tương thích với BIOS trong hệ. Nếu CPU hiện có của bạn gắn vào một môđun Socket 5, bạn sẽ cần một bộ nâng cấp trong đó có bộ chuyển điện thế chẳng hạn như MxPro. Bạn có thể tiết kiệm vài đồng bằng cách chỉ mua con chip, nhưng vẫn phải mua quạt làm mát và phải bảo đảm rằng CPU mới chạy được trong bo mạch chủ của bạn.
Tốc độ xung nhịp (clock) đóng vai trò quan trọng trong bất kỳ sự nâng cấp nào. CPU chạy càng nhanh, máy của bạn làm việc càng ngon lành. Đồng thời, nếu nâng cấp sao cho mở rộng được cache sơ cấp (L1) của CPU thì rất tốt, bởi bộ nhớ nhanh này có thể bù cho những bộ phận chậm hơn như RAM.
Nếu bạn có hệ Pentium Pro, hãy tính đến chuyện mua bộ Pentium II OverDrive Processor của Intel dành cho máy Pentium Pro; bộ này cho phép bạn nâng tốc độ đồng hồ lên đến 333MHz (cao hơn giới hạn 200-MHZ của Pentium Pro). Việc nâng cấp sẽ bổ sung các chỉ thị MMX và lõi PII để Windows 95 chạy nhanh hơn. Có điều giá hơi cao: những 550 USD. Tuy nhiên, nó sẽ tiếp sức sống mới cho các máy PC già nua.
Kể từ đầu năm 1999, Evergreen sẽ phục vụ nâng cấp CPU trên một PCI card, nghĩa là bất cứ máy tính nào chấp nhận card PCI (kể cả một số máy 486) đều có thể nâng cấp lên Pentium II. Giá cả sẽ thay đổi, nhưng dù sao bạn vẫn có thể nâng cấp lên Celeron có 64MB RAM mà chỉ tốn từ 350 đến 500 USD.
Giải pháp đĩa cứng
Hệ điều hành Windows 98, các ứng dụng như Microsoft Office, và các tập tin dữ liệu cứ mãi phình ra không ngừng, tất cả những thứ đó đều ngốn không gian đĩa. Điều này có nghĩa là đĩa cứng 2GB của bạn, mới năm ngoái dường như quá lớn, giờ xem chừng đã bắt đầu chật chội.
Nếu máy bạn là loại tương đối mới và đã hết chỗ chứa thì bổ sung ổ cứng là một ý tưởng rất hay. Bạn thật may mắn: đã xuất hiện thế hệ ổ cứng mới dung lượng vừa lớn vừa chạy nhanh mà giá lại chưa bao giờ "mềm" như hiện nay. Bạn có thể bỏ ra 150 USD để sở hữu một ổ 4GB, nhưng tội gì không thêm 50 USD nữa mà có thể sải một bước dài và tha hồ tung hoành về sau? Hiện các ổ cứng 6,5GB như Medalist Pro 6530 của Seagate (www.seagate.com) đang là cái đinh trên thị trường ổ cứng, giá khởi điểm không đầy 200 USD.
Mở rộng không gian đĩa
Nếu chừng đó vẫn chưa đủ không gian cho bạn, còn có nhiều thứ khác để bạn chọn. Bỏ ra chừng 200 USD mua được ổ cứng 8 GB; còn nếu bạn thật sự cần kho lưu trữ khổng lồ, đã có các ổ cứng từ 10GB đến 12GB giá từ 250 đến 350 USD. Giá cả này là cho ổ EIDE, chuẩn cho hầu hết máy tính để bàn. Nếu bạn cần ổ đĩa SCSI, hãy chuẩn bị rút hầu bao thêm 30% đến 50% nữa, cộng với 100 - 200 USD cho card điều khiển SCSI (controller). Nhưng cần biết rằng hầu hết ứng dụng văn phòng thông thường cho máy để bàn, nếu dùng với SCSI thì cũng chẳng tốt hơn lên bao nhiêu. Ôổ này chỉ thật sự đắc địa nếu dùng với các ứng dụng chuyên nghiệp tốn nhiều đĩa, như đồ họa, hoặc server trên mạng.
Lắp đặt ổ cứng mới là một trong các nâng cấp phổ biến nhất và là sự đầu tư có ích vào máy tính. Nhưng bạn hãy thực tế: nếu máy bạn là 486 hoặc Pentium các đời đầu thì nâng cấp chẳng có lợi gì lắm, bởi những chip này không chạy kịp với tốc độ lưu chuyển dữ liệu cực nhanh của các ổ cứng đời mới nhất, thành thử lại vô hiệu hóa chính thế mạnh của ổ cứng là tốc độ. Nếu đó là trường hợp của bạn, có lẽ đã đến lúc cần đầu tư mua hẳn một hệ mới.
Một khi bạn vẫn quyết định nâng cấp ổ cứng, hãy cân nhắc kỹ lưỡng kinh nghiệm và kỳ vọng của mình. Nếu mới làm quen với máy tính, chưa gì đã ngán ngẩm nghĩ đến việc cầm ốc vít, hoặc nếu quá vụng tay vụng chân, hãy để một dịch vụ máy tính làm giúp cho bạn. Mặt khác, nếu bạn thành thạo máy tính thì lắp ổ đĩa mới chẳng phải việc gì khó. Hiện nay các bộ nâng cấp ổ cứng đều có kèm theo chỉ dẫn từng bước cũng như dụng cụ lắp đặt và cáp. Thậm chí các bộ nâng cấp còn có một phần mềm giúp loại trừ hoàn toàn những khó khăn vì không tương thích với các hệ cũ hơn và tự động hóa việc chuyển dữ liệu từ ổ cũ sang ổ mới.
Nếu máy của bạn chưa tới một năm tuổi, có thể nó có một giao diện UltraDMA cài sẵn, đôi khi gọi là UltraATA hay AT-4, hoạt động tuyệt hảo với các ổ UltraDMA hiện nay. Bạn có thể gắn ổ UltraDMA vào một EIDE chuẩn - là giao tiếp thường có trong các máy tính sản xuất trong vòng ba bốn năm trở lại đây, nhưng hiệu quả sẽ không được tối đa như với ổ UltraDMA. Các máy tính cũ hơn cần nâng cấp BIOS thì mới có thể chạy với UltraDMA; bạn hãy kiểm tra lại với nhà sản xuất. Nếu máy của bạn không có giao tiếp UltraDMA (xem lại trong chỉ dẫn kèm theo máy), bạn bỏ ra thêm 60 - 80 USD mua một card UltraDMA để gắn thêm vào, ổ đĩa mới sẽ hoạt động hoàn hảo ngay.
CD hay DVD
Ngày nay đĩa CD có lẽ đã trở nên quen thuộc với hầu hết chúng ta. Nếu muốn cài đặt Microsoft Office 97, hay chơi You Don't Know Jack hoặc đơn giản chỉ nghe bản Giao Hưởng Số 9 của Beethoven trong khi làm việc, bạn cần phải chạy đĩa CD. Điều này có nghĩa là bạn phải có một ổ CD-ROM. Nhưng nếu muốn xem phim trên máy vi tính, hay tự làm phim hoặc chuẩn bị hệ thống để sẵn sàng tiếp nhận những phần mềm thế hệ mới, bạn cần phải nâng cấp ổ đĩa.
Hệ thống của bạn có lẽ đã có sẵn ổ CD-ROM chạy với tốc độ 4X hay nhanh hơn, và có thể bạn đã thử nâng lên ổ 32X hay 40X rẻ tiền. Nhưng thử nghĩ mà xem: thực ra, mọi đầu CD-ROM đều được viết cho ổ 2X hoặc 4X, do đó mua một thiết bị nhanh hơn cũng chẳng làm ứng dụng chạy tốt hơn. Lý do chính đáng để mua một ổ CD mới là ổ cũ của bạn đã chết ngắc mà bạn lại không có tiền, không có thì giờ, hoặc bạn muốn lắp một ổ DVD-ROM thay cho CD-ROM. Một ổ CD-ROM 32X rẻ tiền giá chỉ có 50 USD mà vẫn có thể giúp bạn quay đĩa trong khi tạm thời chưa mua được máy mới có lắp sẵn ổ DVD-ROM.
Tương lai là DVD-ROM
Nếu bạn mua máy Pentium trong khoảng hai năm trở lại đây thì cách hay hơn nhiều là bỏ ra từ 200 đến 350 USD mua một ổ DVD-ROM có thể đọc cả các CD cũ lẫn đĩa phim, trò chơi và nhiều thứ khác bằng DVD. Quả thật là ngoài phim và dăm ba đĩa giải trí ra thì hiện ít có đĩa DVD nào khác, tuy nhiên, do ngày càng nhiều máy tính mới có kèm ổ DVD-ROM, tình hình này sẽ thay đổi.
Nâng cấp DVD thường phải dùng một bộ, chẳng hạn Sony DDU220E/H (giá 349 USD, www.sony.com), gồm cả card giải mã (decoder card) MPEG 2 để chạy phim video DVD. Card giải mã là thứ không thể không có, mặc dù nó làm đội giá ổ đĩa lên khoảng 100 USD. Dùng bộ giải mã MPEG 2 kiểu phần mềm thì chỉ có thể cho ra những phim video "chập chờn" nếu máy của bạn thấp hơn Pentium II-350 (và ngay cả với máy Pentium II-450, vẫn thấy tình trạng "chập chờn" nếu bạn làm một việc khác trong khi DVD đang xem phim. Vì vậy, trừ khi máy của bạn đã có phần cứng MPEG lắp sẵn, nếu không, đừng chần chừ gì nữa, hãy mua một bộ nâng cấp có bao gồm cả card giải mã). Cần nhớ rằng việc lắp đặt có thể khó khăn: nào là một card giải mã và một ổ DVD-ROM, trình điều khiển (driver) cho cả hai thứ đó, lại còn kết nối âm thanh giữa card MPEG với card âm thanh, trong quá trình lắp đặt có thể phát sinh lắm chuyện đau đầu.
Nghe đĩa của chính bạn
Nếu muốn có một ổ đĩa cho phép bạn vừa ghi vừa xem dữ liệu trên đĩa, tình huống có thể còn phức tạp hơn nữa. Bất cứ ai, một khi nghĩ đến chuyện sáng tác hay phổ biến âm nhạc, tác phẩm đồ họa, phim video hoặc phần mềm, tất phải tính đến việc mua một ổ CD-R hay CD-RW. Cả hai đều cho phép bạn tự tạo những đĩa CD-R 500MB có thể chạy trên bất cứ ổ CD-ROM nào. Đúng là bạn có thể tự sản xuất đĩa nhạc của chính mình. Các ổ CD-RW còn cho bạn xóa và dùng lại dữ liệu trên những đĩa đặc biệt có thể ghi lại được. Đĩa này đắt hơn, mỗi cái chừng 20 USD so với đĩa CD-R chỉ có 5 USD hoặc thấp hơn. Nhưng bởi vì bạn có thể dùng lại các đĩa CD-RW nên có đắt một chút cũng đáng. Năm ngoái, các ổ CD-RW như CD-Writer Plus 72001 của Hewlett-Packard (giá 399 USD; www.hewlett-packard.com) đã giảm giá xuống bằng ổ CD-R (từ 350 đến 650 USD), nên hiện nay càng có ít lý do để bạn mua ổ CD-R.
Nhưng ngay cả dung lượng dữ liệu 500MB của đĩa CD-R hiện nay hoá ra cũng không nhiều. Muốn có kho dữ liệu tối đa có thể xóa được, bạn phải chi từ 400 - 800 USD để mua ổ DVD-RAM; nó cho phép lưu tối thiểu 2,6GB mỗi hộp (cartridge). Chỉ có một vấn đề: cartridge DVD-RAM không thể chạy trong thiết bị nào khác ngoài ổ DVD-RAM. Đồng thời ổ DVD-RAM lại không thể ghi dữ liệu vào vật mang nào khác, mặc dù chúng có thể chơi cả CD-ROM, CD lẫn DVD. Do đó, nếu bạn mua ổ DVD-RAM hay một trong các biến thể của nó, đừng mong dùng cartridge DVD-RAM ở đâu khác ngoài chính ổ đĩa của mình, nên bạn không thể đút cartridge vào túi quần rồi đi nhét vào ổ DVD-RAM nào cũng được. Nhưng chưa hết: chuẩn DVD-RAM vẫn có đối thủ, chủ yếu là DVD-RW, một chuẩn 3GB do Hewlett-Packard, Philips và Sony hỗ trợ. Nếu không cần bổ sung kho dữ liệu ngay bây giờ, bạn hãy cứ bằng lòng với ổ CD-RW chừng nào một trong các chuẩn DVD-RAM đang cạnh tranh hiện nay chưa thật sự nổi trội lên.
Đồ họa nhanh
Nâng cấp video card là một ý tưởng có vẻ hay, chừng nào bạn chưa xem xét thấu đáo hơn. Thực tế là nếu card đồ họa của bạn chưa tới hai năm tuổi và bạn ít quan tâm đến trò chơi, ảnh kỹ thuật số, quay video hay xem tivi trên máy tính, thì thay card có lẽ chỉ là vung tiền qua cửa sổ. Với những ứng dụng thông thường như xử lý văn bản, bảng tính, thậm chí trình diễn (presentations) đồ họa, thì dù sử dụng card nhanh nhất hay chậm nhất bạn cũng chẳng thấy có gì khác nhau. Tìm đúng card đồ họa bạn cầnDẫu vậy, với một số người, dùng đúng card đồ họa là chuyện khác hẳn. Nếu cần xem hay xử lý ảnh, bạn phải có card đồ họa đủ bộ nhớ mới có thể hiển thị ảnh màu 24 bit ở đúng độ phân giải bạn muốn.Để xác định bạn cần card đồ họa có bộ nhớ bao nhiêu, hãy chú ý thật kỹ khi máy khởi động: dòng graphic card BIOS cho thấy rõ số dung lượng bộ nhớ. Nếu muốn chạy ở độ phân giải 800 x 600, bạn cần ít nhất 2MB bộ nhớ video mới có thể hiển thị ảnh màu 24 bit; còn nếu muốn độ phân giải cao hơn nữa (1024 x 768 hay 1280 x 1024) thì 4MB mới đủ. Card 8MB sẽ cho bạn thoải mái chọn độ phân giải tới 1600 x 1200, hầu như chỉ dành riêng cho các ứng dụng CAD hay đồ họa cao cấp làm việc với màn hình 21 inch và lớn hơn. Số RAM thừa không dùng để hiển thị hình ảnh có thể giúp tăng một phần tốc độ xử lý nhờ lưu dữ liệu tốt hơn. Hầu như mọi card đồ họa mới như STB Velocity 128 (giá 99 USD) có ít nhất 4MB bộ nhớ video; nhiều card khác như ATI XpertYỵPlay98 (giá 95 USD; www.atitech.com) có tới 8MB.
Bạn có thể nâng cấp video RAM trên hầu hết các loại card đồ họa, nhưng mua card mới có nhiều bộ nhớ hơn thì hay hơn nhiều, đặc biệt là khi card hiện tại của bạn đã quá hai năm tuổi. Các nhà sản xuất card đều đặn nâng giá mỗi lần nâng cấp bộ nhớ của mình. Bạn có thể may mắn tìm được bộ nhớ của nhà sản xuất thứ ba tương thích mà giá lại phải chăng; tuy nhiên, lắp đặt được nó mà không phải bẻ cong các chân hoặc không làm hỏng đế cắm nào là cả một thách thức, đó là chưa kể dùng nó bạn chẳng được bảo hành gì hết. Chỉ những người sành sỏi về kỹ thuật nếu tìm được giá nâng cấp hợp lý mới dám làm kiểu này. Nếu bạn không phải người như thế, hãy ngậm bồ hòn làm ngọt mà mua hẳn một card mới vậy.
Hoàn thiện hình ảnh
Khi mua card đồ họa mới thì các trò chơi (game) vẫn là thứ được lợi nhiều nhất. Đó là do các nhà sản xuất luôn tối ưu hóa các game dành cho các chip đồ họa 3D (là bộ xử lý chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc tính toán những chi tiết hình ảnh 3 chiều). Tốc độ và mức phong phú của các chi tiết hình ảnh 3 chiều tùy theo bộ chip thuộc loại nào. Hiện nay, các loại card chứa bộ chip Voodoo2,
Làm việc với modem
Modem cáp, ASDL, và những công nghệ mới khác đang manh nha xuất hiện đều hứa hẹn một ngày kia có thể lướt Web "nhanh như ý nghĩ". Nhưng trừ khi bạn sống ở một trong số ít đô thị lớn, nơi những dịch vụ này đang được thử nghiệm, bằng không, bạn đừng vội mơ tưởng đến những điều chưa thể có ngay được đó. Hầu hết người dùng Internet, đặc biệt những ai sống ở vùng nông thôn, sẽ tự hài lòng với POTS (plain old telephone service, dịch vụ điện thoại cũ thông thường) trước một tương lai có thể nhìn thấy được.
Mua modem mới
Nếu bạn phát mệt vì cứ phải ngồi chơi xơi nước trong khi chờ modem 28.8 hay 33.6kbp ì ạch bò, nhất định đã đến lúc cần nâng cấp lên 56 kbp. Thật là may: hai công nghệ 56 kbp cạnh tranh nhau xưa nay (K56flex và x2) đã hợp nhất thành một chuẩn duy nhất gọi là V.90, và các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), tuy từ từ nhưng chắc chắn, đang chuyển đổi sang chuẩn này.
Tuy nhiên, nâng cấp modem 28.8 hay 33.6 đang dùng có thể khá rắc rối. Một số nhà sản xuất modem cho bạn tự nâng cấp lên V.90 bằng cách thay một cặp chip, hoặc có một chương trình đổi hàng có bù tiền cho phép bạn mua modem V.90 với giá hạ. Nhưng các chương trình này đang phá sản vì modem V.90 - cũng như mọi phần cứng máy vi tính khác - hiện đang giảm giá.
Giải pháp hợp lý nhất là hãy tặng modem cũ, chậm của bạn cho một trường học hay tổ chức từ thiện nào đó rồi mua modem hoàn toàn mới. Giá khởi điểm của modem V.90 lắp trong (internal) khoảng từ 80 USD, còn modem lắp ngoài như Diamond Multimedia SUpraExpress 56 giá khoảng 100 USD (www.diamondmm .com). Lắp đặt modem ngoài khá dễ, còn gắn modem trong thì tốn sức hơn một chút. Nếu không muốn tự làm, bạn hãy nhờ dịch vụ làm thay.
Nếu đã có một modem K56flex hoặc x2, bạn có thể nâng cấp lên chuẩn V.90 miễn phí bằng cách tải xuống một số phần mềm từ Web site của nhà sản xuất modem; phần mềm này thực hiện nâng cấp bằng cách lập trình lại một chip trong modem. Tuy nhiên, có một điều kiện: trước khi làm bước này, bạn cần phải biết nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) của bạn có hỗ trợ chuẩn V.90 hay không (hiện tại, các ISP tại Việt Nam chưa hỗ trợ chuẩn này). Sau khi nâng cấp, một số modem không thể tương thích trở lại với K56flex hay x2 nữa. Nếu ISP đã làm việc tốt với modem của bạn thì thôi; nâng cấp lên V.90 chẳng ích lợi gì nếu bạn không cần. Tính tương thích của V.90 thay đổi tùy theo nhà sản xuất và model; do đó bạn cần kiểm tra Web site của nhà sản xuất modem.
Kết nối tốc độ cao
Máy tính luôn chạy trơn tru, vẫn chưa đủ! Bạn còn phải làm sao cho các thiết bị đồng hành của nó cũng chạy tốt như thế. Nếu có một máy ảnh số, máy quét (scanner) và/hoặc thiết bị lưu dữ liệu ngoài, bạn sẽ gặp vấn đề: nhiều dụng cụ quá mà không đủ cổng nối. Tìm giải pháp nào bây giờ? Câu trả lời: bổ sung vài cổng nhanh (fast ports) vào.
May cho bạn, Universal Serial Bus cuối cùng đã đường hoàng bước vào cuộc, SCSI đang vững bước mạnh mẽ, và các nối kết 1394 "nhanh như ánh sáng" chẳng bao lâu nữa sẽ ra đời.
Bạn cần tốc độ nào?
Tuy vậy, đầu tiên bạn cần cân nhắc xem mình cần tốc độ bao nhiêu. Nhiều máy quay video để bàn, máy ảnh số và máy quét có độ phân giải thấp đòi hỏi một cổng USB. Nếu mua máy tính vào năm ngoái, có lẽ bạn đã có hai cổng USB mở, mỗi cổng có thể di chuyển 12MB dữ liệu mỗi giây ("nhanh như gió" so với cổng song song 1,2MBp). Đã đến lúc bạn cần dùng chúng. Nếu đang làm việc với một máy tính cũ hơn, bạn phải dạy nó một vài mẹo mới. Những bộ công cụ nâng cấp USB hiện nay rất rẻ. Bộ nâng cấp hai cổng PCI-4U USB của Entrega Technologies chẳng hạn, giá 40 USD (www.entrega.com) có thể đút lọt vào khe PCI trống trong một hệ chạy Windows 98.
Còn nếu bạn muốn nối vào một thiết bị cần giải băng rộng hơn, chẳng hạn một ổ đĩa ngoài hay máy quét có độ phân giải cao, USB chịu thua. Bạn cần một nối kết SCSI. SCSI 2 (loại nối kết SCSI phổ biến nhất) nhanh hơn USB từ hai tới ba lần. Với người dùng chưa có nối kết SCSI, nhiều thiết bị ngoại vi có cả một card SCSI kèm theo. Tuy vậy hãy thận trọng: card SCSI theo bộ có thể không phù hợp với các đặc tả (specifications) mới nhất, nên lắp đặt có thể hơi rắc rối và làm việc "lôm côm" nếu gắn vào những thiết bị SCSI khác mà nó được cung cấp đồng bộ. Tốt hơn là hãy tự mua lấy một card SCSI (giá khởi điểm từ khoảng 75 USD).
Độ rộng băng (bandwidth) của SCSI là một ưu điểm, nhưng thiết bị SCSI lại đắt hơn và khó lắp đặt hơn là thiết bị USB. Một hệ bus mới gọi là 1394 (aka FireWire) hứa hẹn cả công nghệ SCSI lẫn USB đều sẽ đáng đồng tiền bát gạo của bạn. Bus 1394 sẽ cho phép người dùng bổ sung nhiều thiết bị mà không cần khởi động lại hệ thống và tốn công sức. Nó cũng có thể truyền dữ liệu nhanh hơn USB tới 16 lần. Adaptec hiện đang bán một card kết hợp 1394/SCSI PCI giá 699 USD (www.adaptec.com), nhưng nếu mua nó bây giờ, bạn sẽ chỉ có thể dùng nối kết 1394 với dăm ba máy ảnh số mà thôi. Trong vài ba năm tới, giá sẽ hạ và khi đó bạn sẽ có thể mua các máy quét, ổ cứng và thiết bị ngoại vi khác tương thích với 1394
Bảo vệ CMOS
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 4/99
Máy tính đang chạy thông báo lỗi "CMOS Checksum Error". Máy bị hỏng. Tôi phải làm gì?
Thông báo lỗi CMOS (Complementary Metal - Oxide Semiconductor) này thuộc về một chip được nuôi bằng pin gắn trên bo mẹ dùng để lưu giữ các thông tin cấu hình phần cứng. Một số thông tin trong đó - ví dụ kiểu đĩa cứng mà bạn đã cài đặt - khá quan trọng. Đối với loại dữ liệu này bạn không hề muốn bị mất. Nếu không có trong tay những chương trình có thể sao lưu dự phòng các thông tin CMOS như Norton Utilities hoặc Nuts & Bolts, bạn phải in ra hoặc ghi lại các thông tin đó: vào chương trình cài đặt PC bằng cách nhấn phím
Về lỗi này: PC của bạn sẽ phát thông báo lỗi nếu nó cho rằng thông tin CMOS đã bị thay đổi mà không phải do bạn chủ động thay đổi. Virus, hết pin, hoặc một bất thường nhất thời nào đó có thể gây tình trạng này.
Khi nhận được thông báo lỗi này, bạn phải phục hồi lại các thông số cài đặt của CMOS. Nếu có đĩa Rescue Disk của Norton hoặc của Nuts & Bolts, hãy khởi động lại máy bằng đĩa khởi động khẩn cấp đó và thực hiện theo những chỉ dẫn của nó. Nếu sao lưu dự phòng được ghi trên giấy, bạn phải vào chương trình cài đặt hệ thống và phục hồi lại các thông số cài đặt bằng tay. Nếu không có sao lưu dự phòng, bạn tìm hiểu cấu hình của hệ thống thông qua tài liệu kỹ thuật của máy, hoặc hỏi nơi mua máy.
Khi đã nhập lại những thông tin này, bạn lưu lại những thay đổi và khởi động PC. Kiểm tra để bảo đảm mọi thứ đều hoạt động tốt, đóng Windows và tắt máy tính. Sau vài phút, bật máy trở lại. Nếu vẫn còn thông báo lỗi thì pin trong máy đã hết. Bạn phải mở nắp PC và thay pin mới - hoặc nhờ kỹ thuật viên làm việc này. Nếu pin được hàn lên bo mẹ, có lẽ bạn còn phải thay cả bo mẹ đó (tuổi thọ của pin máy tính khoảng năm năm).
Hình 2: Tạo ra một khung chứa chương trình DOS bằng việc xác định nó được tải vào như thế nào và những tập tin nào khác được tải.
Nếu trục trặc không phải do pin, bạn cập nhật chương trình chống virus mới nhất rồi thực hiện quét virus. Nếu chương trình quét không tìm thấy gì, thì hy vọng trường hợp hỏng CMOS này chỉ là một tai nạn ngẫu nhiên và sẽ không xảy ra lần nữa.
Xuân Cường
PC World Mỹ 4/99
Xem bai viet bang font ABC
Trong số các thành phần cấu thành máy tính, nếu CPU là yếu tố quyết định khả năng và tốc độ xử lý của hệ thống thì bo mạch chủ đóng vai trò tạo ra một môi trường hoạt động ổn định cho tất cả các thiết bị khác, kể cả CPU. Bản thân tên gọi motherboard cũng chứng tỏ điều này.
Bo mạch chủ, hay còn gọi là bo mẹ (motherboard) có ý nghĩa rất lớn trong cả hệ thống PC của bạn. Bạn có thể là chủ nhân của ổ đĩa cứng SCSI nhanh nhất, đầu DVD/CD-ROM tân kỳ, 64 MB SDRAM DIMM, BXL Pentium II 400MHz, card âm thanh Creative Sound Blaster Live, đồ họa Voodoo II và modem V.90 56kbps... nghĩa là những gì tốt nhất có thể.
Nhưng tất cả những thứ trên sẽ đều không có nghĩa lý nếu máy tính của bạn thường xuyên bị treo, chạy chập chờn. Đây là cơn ác mộng của nhiều người dùng máy tính mà có lẽ nguyên nhân chính là bạn đang có một bo mạch chủ chất lượng kém.
Thật không có gì tồi tệ hơn khi bạn vừa hoàn tất bản luận án 80 trang được trình bày tỷ mỉ với nhiều hình ảnh minh họa, và ghi thực hiện động tác lưu cuối cùng, máy tính đột ngột đưa ra thông báo lỗi "chết người", đại loại như "không thể lưu lên đĩa cứng bởi....", và sau đó hoàn toàn bất động trước mọi thao tác của bạn. Chỉ còn cách cuối cùng là tắt máy rồi bật lại. Kết quả thật thảm hại: tập tin Word của bạn giờ đây chỉ là rỗng tuếch với kích thước 0 byte. Tất cả những nỗ lực của bạn nhằm hồi phục lại tập tin đều vô nghĩa. Cũng từ đây, bạn mới hiểu được tác hại của một bo mạch chủ tồi.
Bài học về tốc độ
Đối với người tự lắp ráp máy tính, điều quan trọng là phải chọn đúng bo mạch chủ. Bởi nếu có trục trặc sau này, bạn phải tự mình xoay sở lấy mà không có sự hỗ trợ kỹ thuật nào. Bạn có thể đẩy tốc độ bus PCI lên đến 133MHz, nhưng khi đó đừng đòi hỏi nhà cung cấp đổi cho bạn bo khác trong trường hợp sự cố. Tốc độ quan trọng, nhưng tính ổn định có ý nghĩa lớn hơn. Có gì hay ho khi bạn lái xe với tốc độ 200km/h để chỉ đi được nửa quảng đường vì xe chết máy. Tốc độ của bo mạch chủ phải nhanh. Tuy nhiên sự ổn định và những đặc tính khác như khả năng hỗ loại CPU, chế độ tiết kiệm năng lượng, các đầu kết nối I/O và kiểm soát nhiệt độ.. đóng vai trò quan trọng trong việc bảo dưỡng hệ thống và đáng giá với chi phí bỏ ra.
Để minh họa, bạn hãy thử xem thử một máy server dùng cho LAN. Server và các phần mềm đi kèm không chỉ mạnh về cấu hình, tính năng mà nó còn báo trước được những sự cố sắp xảy ra, cho dù đó là đĩa cứng hay các vấn đề liên quan đến mạng, và thường là tự khắc phục chúng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự ổn định và độ tin cậy của một hệ thống. Bạn dể dàng nhận thấy là các máy PC xoàng xĩnh thường có nhiều thiết bị, tính năng phụ trợ bổ sung nhằm hấp dẫn người mua.
Thử nghiệm thực tế
Chúng ta cùng xem xét một số bo mạch sử dụng chip "Klamath", Pentium II của Intel. Đây không phải là những CPU mạnh nhất, và chúng sử dụng loại SDRAM DIMM 66MHz và thậm chí còn EDO DRAM SIMM/DIMM. Các bo mạnh dựa trên bộ chip 82440LX này không hỗ trợ AGP và có giá thấp trong số các bo mạch Slot 1. Các bo mạch mới loại Super Socket 7 (bus 100MHz) vừa được đưa ra có giá cao hơn. Loại bo mạch tân tiến và nhanh nhất sử dụng bộ chip Intel 82440BX AGP có thể chạy ổn dịnh ở tốc độ 100MHz và hỗ trợ AGP, SDRAM DIMM 100MHz và tính năng tự kiểm soát. Nhưng đối với các bạn, người tự lắp ráp máy tính, thì hay nhất có lẽ là đặc tính tự phát hiện và tự cấu hình được cài sẵn vào nhiều bo mạch loại BX, giúp bạn khỏi phải khó nhọc với các jumper và switch DIP (dual in-line package).
Để kiểm tra về mặt kỹ thuật, chúng ta sử dụng chương trình PC WorldBench 98 (chương trình trắc nghiệm tốc độ) và chạy trên mỗi bo mạch chủ.
Ngoài ra, các thiết bị ngoại vi được sử dụng cùng với bo mạch bao gồm: đĩa cứng Quantum Fireball SE2 2,1 GB, 64MB SDRAM DIMM cho các bo mạch LX và 64MB SDRAM DIMM 100MHz theo chuẩn PC-100 cho bo mạch BX; Card AGP và 2D/3D; 24x CD-ROM...
Vấn đề tồn tại chung cho tất cả các bo mạch, và không chỉ đối với các loại đang xem xét mà còn tất cả bo mạch trước đây là sự không cẩn thận, lẫn lộn, đôi khi sai trong tài liệu và sơ đồ hướng dẫn. Thật khó để xác định vị trí cắm đèn LED của đĩa cứng, và thậm chí cả công tắc nguồn. Điều này có thể do phần lớn các bo mạch chủ đều được sản xuất tại Đài Loan, nơi mà tiếng Anh chưa phải thông dụng.
Với người dùng PC, không có gì hạnh phúc hơn khi máy tính khởi động chuẩn xác. Nếu tất cả được cấu hình đúng, trò chơi 3D sẽ chạy nhanh và trơn tru, các ứng dụng văn phòng được thực hiện nhịp nhàng, không có sự trì trệ khó chịu. Hơn nữa, bạn có thể tin chắc rằng bo mạch của bạn đang kiểm soát nhiệt độ và mọi hoạt động của nó với sự chính xác và cẩn thận.
Bo mạch sử dụng bộ chip Intel 822440BX
Aristo AM-608BX
Được giới thiệu như một bo mạch tích hợp cao, gọn và có giá hấp dẫn, Aristo AM-608BX hỗ trợ SDRAM và Registered SDRAM, có đặc tính Super I/O, Ultra-DMA/33, PCI Bus Master IDE, AGP version 1.0, tuân thủ PCI version 2.1, USB, theo chuẩn VRM 8.2, kiểm soát hệ thống LM79/75 và Creative sound (tùy chọn). Khe cắm Slot 1 có thể tiếp nhận bất kỳ loại Pentium II nào từ 233 - 450MHz với tốc độ bus 66MHz hoặc 100MHz. Voltage Regulator Module (VRM) được cài sẵn trên bo cho phép dễ dàng nâng cấp lên các bộ xử lý OverDriver của Intel trong tương lai.
Bo mạch hỗ trợ đến 412MB SDRAM hay 1GB Registered SDRAM với các khe DIMM 168 chân. SDRAM chỉ được hỗ trợ cho bus 66MHz. Có 4 khe DIMM (đủ để nâng cấp bộ nhớ), 3 khe cắm ISA (1 dùng chung với PCI), một khe cắm AGP1 (hỗ trợ version 1.0, 1x/2x), và 4 khe cắm PCI Bus-Master. Bo mạch thuộc loại ATX (ATX form factor). BIOS hệ thống là loại flash có thể nâng và có jumper để thay đổi điện áp 5V hay 12V. BIOS có thể nhận biết đĩa cứng loại LBA với dung lượng trên 8,4GB. Về khả năng quản lý năng lượng, Aristo hỗ trợ SMM, APM và ACPI.
Ngoài ra, còn có công tắc chuyển đổi dùng để tạm ngưng thao tác hệ thống (suspend/resume), Wake-On-LAN (WOL), Wake-On-Ring (WOR) dùng cho modem và tuân theo tiêu chuẩn Energy Star "green PC". Bo Aristo AM608BX là loại PC97/98 và bao gồm cả tính năng kiểm soát hệ thống.
Trong thử nghiệm với PC WorldBench 98, Aristo đạt 172 điểm với card video PCI S33ViRGE/GX. Tài liệu hướng dẫn ít và không chỉ ra ký hiệu +/- của dây nối.
AZZA PT-6IB
Đây là bo mạch nhanh thứ hai trong số các bo BX được xem xét (điểm PC WorldBench 98 là 172), và thuộc loại tốt đối với tùy chọn giá thấp. Tuy nhiên, có vài vấn đề về setup và phải khởi động lại vài lần. Nhưng sau khi thiết lập, bo mạch hoạt động bình thường.
Điều gây nhầm lẫn là hàng chân nối đèn tín hiệu của LED/power/HDD không có ký hiệu cho cực dương/âm (+/-), buộc người dùng phải tự mò mẫm để thử.
Với một PCI Local Bus, PT-6IB là bo mạch loại ATX dựa trên cơ sở bộ chip hệ thống 82440BX AGPset và Winbond I/O. Nó bao gồm hai kênh PIO (Programmed Input/Output) và cổng Ultra-DMA/33 Bus Master mode PCI IDE cài trên bo, một cổng điều khiển đĩa mềm, hai cổng serial tốc độ cao (UART) và một cổng parallel nhiều chế độ, hỗ trợ mouse PS/2, cổng hồng ngoại IrDA và USB. AZZA có thể chạy với các chip Pentium II từ 233 đến 450MHz với cấu trúc SEC.
Ngoài ra, PT-6IB còn có các đặc tính như mạch chỉnh điện áp, hỗ trợ +1,8V DC đến +3,5V DC của CPU, kích thước từ có thể là 8-, 16-, 32- và 64-bit, đường địa chỉ 32-bit. Trên bo có 3 khe cắm DIMM 168 chân, cho phép tối đa 384MB bộ nhớ loại parity và ECC (error correcting code). AZZA PT-6IB hỗ trợ tính năng Wake-On-LAN và các chức năng Green (tiêu chuẩn môi trường).
DFI P2XBL
Bo mạch P2XBL được trang bị đế cắm CPU Slot 1 cho Pentium II các loại từ 266MHz đến 450MHz. PCI Bus có thể thiết lập 66MHz hay 100MHz. Với 3 khe cắm dành cho bộ nhớ loại DIMM 168 chân, kích thước bộ nhớ có thể đạt 384MB. Khe cắm mở rộng bao gồm: một dành riêng cho AGP, ba PCI, hai ISA và một chung cho PCI/ISA. Tất cả khe cắm PCI và ISA có Bus Mastering. P2XBL hỗ trợ bộ nhớ EC và ECC.
Hệ thống kèm theo Desktop Management Interface (DMI) 2.0 được cài vào Award BIOS có thể nâng cấp. Tiện ích này tự động ghi lại các thông tin về cấu hình hệ thống và lưu chúng vào "vùng DMI" (một phần trong BIOS Plug-and-Play của hệ thống. DMI được thiết kế nhằm giúp việc bảo dưởng, sửa chữa, khắc phục sự cố trở nên dễ dàng hơn. Kết nối I/O có sẵn trên bo mạch bao gồm: hai cổng serial ND16C550 tương thích DB-9, một cổng parallel SPP/ECP/EPP DB-25, một giao tiếp cho đĩa mềm hỗ trợ đến hai ổ đĩa mềm loại 2,88MB, một cổng mouse PS/2 mini-DIN-6, một cổng bàn phím PS/2 mini-DIN và một đầu nối Wake-On-LAN. Ngoài ra, bo mạch còn có một cổng IrDA và hai USB.
Bộ điều khiển PCI Bus Master IDE cho phép hai giao tiếp PCI IDE hỗ trợ 4 thiết bị IDE. Bo mạch cũng hỗ trợ Ultra-DMA/33 (chế độ Synchronous Ultra DMA/33), Enhanced IDE PIO Mode 3 và Mode 4 với tốc độ truyền 16,6MB/s, ATAPI CD-ROM và LS-120 và Iomega ZIP. DFI P2XBL còn có đầu cắm cho Creative SB-Link để kết nối giữa bo hệ thống và card Creative SB PCI. Bo mạch này có khả năng theo dõi và điều khiển nhiệt độ làm việc và hoạt động của quạt thông gió.
P2XBL đạt 172 điểm trong thử nghiệm. Setup bo mạch dễ dàng và nó làm việc ổn định.
Elitergroup P6BX-A+
Đây là bo mạch nhanh nhất và cũng là một trong số những bo mạch nhiều tính năng nhất (điểm trắc nghiệm 176). P6BX-A+ không chỉ chạy ổn định mà còn rất dễ setup, cả điện áp cho BIOS và xung nhịp đều được tự động thiết lập. Tuy nhiên, tài liệu hướng dẫn còn chưa hoàn hảo.
Bo mạch có 3 khe cắm DIMM, có thể tiếp nhận 384MB SDRAM loại 3,3V. Elitegroup chỉ sử dụng SDRAM 100MHz tuân theo chuẩn PC-100 để đạt tốc độ cao nhất. Đặc tính tiết kiệm năng lượng bao gồm nguồn cung cấp loại ATX và ACPI. BIOS hệ thống hỗ trợ tự động Wake-On-LAN và Wake-On-Call. P6BX-A+ còn được trang bi SB-Link của Creative, cho phép tương thích ngược giữa chip PCI audio và chip ISA audio (thuật ngữ thường dùng là "PC to PCI bridge").
Bo mạnh có 7 khe cắm mở rộng: hai ISA 16-bit, năm PCI 32-bit (trong đó 1 dùng chung với ISA) và một khe cắm AGP. Các cổng chuẩn gồm hai kênh Enhanced IDE, mỗi kênh hỗ trợ hai thiết bị; một đầu nối hỗ trợ hai ổ đĩa mềm; một cổng parallel và hai cổng serial; hai cổng USB; hai cổng PS/2 (cho mouse và bàn phím). Sử dụng firmware (phần mềm được cài cứng), bạn có thể cài thêm phím nóng để bật nguồn (power-on hot-key).
Gigabyte GA-686BX
Gigabyte là một trong những nhà sản xuất có tên tuổi trên thị trường hiện nay. Bo mạch mới GA-686BX của Gigabyte (172 điểm PC WorldBench 98) kèm theo một đĩa CD-ROM với 6 tiện ích hữu dụng cho mainboard. Tài liệu trình bày tốt với nhiều sơ đồ và hình ảnh. Bo mạch làm việc tốt và ổn định. Các đầu cắm cho LED, DIP swich được bố trí hợp lý, mạch lạc và tiết kiệm chỗ.
Về tính năng, GA-686BX được trang bị một khe cắm AGP, đế Slot 1 tiếp nhận Pentium II 233 - 450MHz. Tốc độ bus có thể thay đổi 66 hay 100MHz và được tự động điều chỉnh. Bo mạch gồm bộ chip Intel 440BX AGPset, Winbond 83977 I/O và chip Winbond 83781 Health (tương đương với LM78). Bộ chip 440BX hỗ trợ đặc tính Quad-Port Acceleration (QPA) của Intel, cho phép mở rộng băng thông giữa CPU, AGP, 100MHz SDRAM và bus hệ thống PCI. Phần bộ nhớ gồm 4 khe cắm 3,3V DIMM với khả năng hỗ trợ tới 1GB DRAM. Khả năng mở rộng gồm 1 khe cắm AGP, bốn khe PCI và ba khe ISA.
GA-686BX được trang bị 2Mbit Award BIOS loại flash có chức năng chống virus và Green. Nó còn cung cấp những thông tin bổ ích như nhiệt độ CPU và tình trạng quạt gió. Đầu cắm nguồn loại ATX và các chế độ tắt/mở được áp dụng công nghệ mới nhất. Bo mạch còn hỗ trợ Wake-On-LAN, đầu nối Creative SB-Link, cầu chì bảo vệ bàn phím. Các driver bao gồm LDCM, SIV, Intel PIIX4 và Ultra DMA/33 Bus Master IDE.
Microstar (MSI) MS-6116
Giống như bo mạch LX, MS-6116 với bộ chip 82440BX có đầy đủ tính năng và là bo mạch rất ổn định. mặc dù chỉ đạt điểm 170 (thấp nhất trong thử nghiệm). Nhưng bạn cần biết rằng khác biệt 10 điểm không đáng kể và khó nhận thấy đối với nhiều người. Bo mạch có nhiều khả năng tự theo dõi và kiểm soát nhiệt độ tăng cường.
Một số đặc tính cơ bản của MS-6116 là tuân theo chuẩn PCI/ISA và Green, kết nối Host/AGP, các chức năng ACPI, hỗ trợ Ultra-DMA/33 và SHMC (system hardware monitor control). SHMC có thể nhận biết CPU, nguồn điện, vòng quay của quạt và kiểm soát điện áp và nhiệt độ của CPU, hệ thống. Đế cắm Slot 1 trên bo có thể dùng cho Pentium II 233 - 400MHz. Tỷ lệ tốc độ lõi/bus được thay đổi từ x2 đến x6 hoặc cao hơn. Switching Voltage Regulator cho phép điều chỉnh điện áp DC và tuân theo chuẩn Intel VRM 8.2. Bo MS-6116 hỗ trợ cho bus 66,6MHz và 100MHz, cũng như dành cho 75MHz và 83MHz.
Bộ nhớ chính gồm 4 khe cắm DIMM cho phép đạt tối đa 512MB. Bo mạch cũng hỗ trợ chức năng ECC và hỗ trợ 3,3V SDRAM DIMM. Có thể mổ rộng với một khe AGP (hỗ trợ thiết bị AGP bất kỳ với 66MHz/133MHz và 3,3V), 4 khe cắm PCI và 3 khe ISA (một khe cho cả ISA và PCI). MS-6116BX hỗ trợ PCI Bus Interface 3,3/5V.
Bộ điều khiển IDE trên cơ sở bộ chip Intel 82371EB PCI cho phép một ổ cứng và/hay một ổ CD-ROM với PIO, Bus Master và Ultra-DMA/33. Các thiết bị cài sẵn trên bo gồm cổng cho 2 ổ đĩa mềm, hai cổng serial, một parallel (SPP/EPP/ECP), hai USB và một IrDA.
Tyan S1846S/L/A Tsunami ATX
Bo mạch chất lượng cao của Tyan giành được sự tin cậy của người dùng trên thế giới (mặc dù giá cũng cao). Bản hướng dẫn sử dụng bo mạch rất rõ ràng, cẩn thận và chi tiết, tốt nhất trong số các tài liệu được xem xét.
Về những đặc tính cơ bản, S1846S/L/A Tsunami ATX có thể hỗ trợ Pentium II 233MHz đến 400MHz và cao hơn. Ngoài ra còn có tùy chọn cho chip Celeron. Bo mạch chạy ở tốc độ bus 66MHz hoặc 100MHz và trên bo cài sẵn các thành phần VRM. Tsunami được trang bi bộ chip National "309" Super I/Ovà Intel 82440BX AGPset. Bo mạnh sử dụng công nghệ GTL+ cho phép giảm năng lượng tiêu thụ và EMI (electro-Magnetic Interference). Ngoài ra còn có đặc tính Wake-On-LAN khi sử dụng với bộ nguồn ATX. Một tính năng khác là power-recovery-after-interrupt (hồi phục nguồn sau khi ngắt).
Khả năng mở rộng của bo mạch gồm 5 khe cắm 32-bit PCI, hai khe 16-bit ISA và một khe chung PCI/ISA. Trên bo có hai cổng USB loại ATX, một IrDA, một cổng parallel tốc độ cao, hai cổng serial UART16550 và hỗ trợ ổ đĩa mềm Mode-3. Hệ thống I/O và điều khiển đĩa gồm hai cổng Ultra-DMA/33 PCI Bus Master cho phép CD-ROM loại EIDE. Bus Mastering hỗ trợ PIO Mode 3 và 4 (tốc độ truyền đạt 22MB/s) và hai ổ đĩa mềm (dung lượng đến 2,88MB).
Phải nói rằng bo mạch Tsunami có đầy đủ tính năng và rất đáng tin cậy. Ngoài ra còn được bảo hành 3 năm.
Nhật Thanh PCW Singapore 7/1998
ENPC EP-KL21
Bo mạch được sản xuất bởi ENPC Technologies Corporation tích hợp bộ điều kheỉn IDE với hai giao tiếp IDE tốc độ cao cho 4 thiết bị IDE như đĩa cứng, CD-ROM. Bộ điều khiển Super I/O có những chức năng chính: giao tiếp ổ đĩa mềm, 2 cổng serial 16byte FIFO và một cổng parallel EPP/ECP. Bo mạch hỗ trợ từ 8 đến 512MB SDRAM, 1GB EDO RAM. Nó cũng hỗ trợ Fast Page chuẩn, EDO và SDRAM. Có 3 khe cắm DIMM 169 chân, mỗi khe 32MB. Bộ nhớ đòi hỏi RAM loại 70ns Fast Page hay 60ns EDO. Thiết bị không hỗ trợ RAM parity.
Trên bo mạch EP-KL21 có hai đầu nối PCI-IDE, khả năng tự nhận biết loại đĩa cứng nhờ BIOS. Hệ thống cũng hỗ trợ Award Plug-and-Play BIOS cho card ISA và PCI. Các tính năng khác bao gồm hỗ trợ Ultra-DMA/33, Softpower SM-bus của Windows 95, cổng IrDA, kiểm soát phần cứng LM 78/75, chuẩn ATX.
Phần mở rộng bao gồm 3 khe cắm ISA, 4 khe PCI và 1 AGP. Bo mạch đạt 137 điểm PC WorldBench 98.
Microstar MS-6117 ATX LX6
Bo mạch sử dụng bộ chip Intel 82440LX AGPset tích hợp và Quad Port Acceleration (QPA). QPA cho phép xử lý đồng thời 4 đường cho CPU bus, đồ họa, PCI bus và SDRAM. Bộ chip Intel 82371AB tích hợp tất cả các chức năng điều khiển của hệ thống như Advanced Configuration and Power Interface (ACPI). ACPI đặc trưng bởi tính năng tiết kiệm năng lượng cho OS Direct Power Management (OSPM). 82371AB cũng hỗ trợ LM78 System Hardware Monitor Controller như một chức năng tùy chọn. Chức năng LM78 bao gồm nhận biết CPU/Power supply, vòng quay quạt thông gió, kiểm soát điện áp, nhiệt độ của CPU và hệ thống.
MS-6117 có một đế cắm CPU Slot 1 loại ATX hỗ trợ CPU 200 - 333MHz. Tỉ lệ tốc độ lõi/bus từ x2 đến x6 và cao hơn. Bộ điều chỉnh điện áp trên bo mạch tuân theo chuẩn Intel VRM ver. 8.1 với khả năng bảo vệ quá điện áp. Bo mạch có năm khe cắm Master PCI bus 32-bit, hai khe ISA 16-bit. và một khe chung PCI/ISA. Thiết bị trên bo bao gồm một cổng đĩa mềm hỗ trợ hai ổ đĩa, hai cổng serial, một cổng parallel (SPP/EPP/ECP), cổng mouse PS/2 và bàn phím, hai cổng USB và một IrDA.
Điểm trắc nghiệm của MS-6117 là 137 PC World Bench98.
Để đánh giá tốc độ chung của hệ thống, tạp chí PC World của Mỹ đã đưa ra một hệ chương trình để chạy trên mỗi máy tính cần kiểm tra. Hệ chương trình này được gọi là PC World Bench 98. Để chạy PC World Bench 98, trên máy phải cài sẵn các ứng dụng Microsoft Word 97, Microsoft Excell 97, Lotus 1-2-3 97, Corel Word Pro 97, Corel Paradox 8 và Micrograf Picture Publisher 7. PC WorldBench 98 chạy một kịch bản soạn sẵn (script) cho mỗi ứng dụng trong 3 lần, khởi động lại sau mỗi lần chạy. Trên cơ sở thời gian chạy mỗi kịch bản, PC WorldBench 98 đưa ra đánh giá và so sánh với điểm chuẩn của hệ máy cơ sở (Dell 200MHz MMX, 32MB RAM) rồi cho điểm cuối cùng. Điểm càng cao, tốc độ máy càng nhanh.
LeHoanPc 1996 - 2001
Mirror 1: http://www.tlnet.com.vn/weblh/
Mirror 2: http://www.hcmpt.vnn.vn/co/weblh/
Mirror 3: http://www.lehoan.andi.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
